
Tình cảm sâu lắng, lòng yêu thương của con chó Bấc và Thoóc-tơn là biểu hiện của tình cảm nhân hậu, cao quý, khuyến khích con người hướng đến một cuộc sống đẹp hơn. Cùng theo dõi bài viết dưới đây của Mytour nhé:
Cảm nhận tình cảm của Thoóc-tơn dành cho Bấc
Trong Tiếng gọi nơi hoang dã, câu chuyện về chú chó Bấc được mô tả rất sinh động, đầy cảm xúc, khiến người đọc dễ dàng hiểu và cảm nhận tâm trạng của nhân vật. Dù câu chuyện được kể từ góc nhìn thứ ba nhưng độ chân thực và sâu sắc khiến cho người đọc dễ cảm thấy như mình đang sống trong câu chuyện đó.
Đoạn trích gần như không có sự kiện đặc biệt nào, chỉ là những suy tư, tình cảm của Bấc dành cho chủ, nhưng vẫn được coi là một trong những phần văn xuất sắc nhất của tác phẩm. Một phần lý do là bởi trong đó, những suy tư, tình cảm của Bấc đã được mô tả rất sâu sắc, thể hiện sự quan sát và nhận biết tinh tế, sắc bén của nhà văn.
Phần mở đầu chỉ là sự giới thiệu, nhưng không vì thế mà thiếu đi sức hấp dẫn. Đó là một loại tình cảm hoàn toàn mới mẻ mà Bấc chưa từng trải qua. Để so sánh cụ thể, là mối quan hệ của Bấc với các thành viên trong gia đình thẩm phán Mi-lơ:
- Với các con trai của ông Thẩm, tình cảm ấy chỉ là 'việc làm cùng một nhóm, cùng một hội'.
- Đối với các cháu nhỏ của ông Thẩm, là 'nhiệm vụ bảo vệ và làm người giữ cửa'.
- Đối với ông Thẩm, đó là một loại 'tình bạn trung thành và công bằng'.
Trong các mối quan hệ này, Bấc không chỉ là một con chó bình thường. Đó không chỉ là mối quan hệ giữa một con vật nuôi và chủ nhân, mà còn là một mối quan hệ bình đẳng giữa hai người. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là trong thời gian đó, Bấc chưa từng trải qua một 'tình thương sôi nổi, mãnh liệt, thần sầu, yêu mến tới sùng bái' như tình cảm dành cho Thoóc-tơn. Đó là một cách khởi đầu thực sự ấn tượng.
Trong mối quan hệ với Thoóc-tơn, vị thế của Bấc không thay đổi. Nó tự coi mình là một người bạn trung thành. Có thể điểm khác biệt quan trọng nhất trong tình cảm của Bấc chính là cách suy nghĩ của Thoóc-tơn. Đối với Thẩm phán Mi-lơ và những người chủ khác, Bấc chỉ là một con vật nuôi (dùng ngôn từ của Bấc thì đó là mối quan hệ thuần túy làm việc), dù nó có đạt được bất kỳ thành tựu nào đi chăng nữa. Nhưng với Thoóc-tơn thì khác. Anh ấy thực sự xem Bấc như một người bạn và đối xử với nó như với một người bạn.
Các sự kiện hàng ngày trong mối quan hệ giữa Thoóc-tơn và Bấc được tác giả kể lại rất đơn giản nhưng vô cùng hấp dẫn. Các hành động và cử chỉ được miêu tả kết hợp với các chi tiết cụ thể, sống động, cho thấy tình cảm của Thoóc-tơn dành cho Bấc đã vượt qua mối quan hệ chủ tớ thông thường. Anh ta chăm sóc các con chó 'như chúng là con của mình'. Bấc là một con chó thông minh, hiểu ý nghĩa của các cử chỉ của chủ là gì, và nó đáp lại bằng một tình cảm chân thành nhưng đầy nồng nhiệt. Sự vui sướng của nó đã đến mức 'tim nó sắp nhảy ra khỏi ngực vì hạnh phúc'. Mỗi cử chỉ của Bấc đều có ý nghĩa đặc biệt, khiến Thoóc-tơn cảm thấy như con chó đang nói với anh ấy bằng lời nói thay vì chỉ qua hành động.
Cách Bấc biểu lộ tình cảm cũng rất đặc biệt. Việc nó đặt cả hai hàm răng lên tay chủ trong một khoảng thời gian dài là minh chứng cho tình cảm mãnh liệt của Bấc dành cho Thoóc-tơn. Mặt khác, nó không hề hung hăng như những con chó khác mà chỉ lặng lẽ tôn trọng và quan sát chủ theo cách riêng biệt chỉ Bấc mới có thể hiểu. Sự hiểu biết qua ánh mắt giữa nó và Thoóc-tơn diễn tả tất cả sự ngưỡng mộ, tôn kính, và tình yêu thương mà Bấc dành cho người chủ, mang trong mình những cảm xúc mà trước đó nó chưa từng trải qua.
Sự gắn bó về tình cảm giữa Bấc và chủ được thể hiện sâu sắc hơn trong phần cuối của đoạn trích. Bất cứ khi nào yêu thương chủ nhiều hơn, Bấc cũng sợ mất đi nhiều hơn. Do đó, nó luôn theo dõi Thoóc-tơn và không bao giờ rời xa anh. Chi tiết về việc Bấc không ngủ như 'trườn qua giá lạnh đến gần mép lều, đứng đó, nghe tiếng thở đều đều của chủ...' rất sống động, diễn tả mạnh mẽ hơn cả lời giải thích trực tiếp, thể hiện khả năng quan sát và miêu tả rất tinh tế của tác giả.
Đoạn trích này và cả truyện Tiếng gọi nơi hoang dã nói chung đều có sức hấp dẫn đối với người đọc, không chỉ ở mặt giải trí mà còn ở mặt ý nghĩa xã hội sâu sắc mà chúng gợi lên. Trong cuộc đua tranh khốc liệt để giành giật tài sản, giành giật sự sống của con người, mọi mối quan hệ tình cảm đều bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Tình cảm, lòng yêu thương sâu sắc giữa Bấc và Thoóc-tơn là một lời ca ngợi cho những tình cảm nhân hậu, cao quý, kêu gọi con người hãy tạm gác lại những đam mê vật chất để hưởng đến một cuộc sống tốt đẹp, ý nghĩa hơn.
Cảm nhận về mối quan hệ giữa Bấc và Thoóc-tơn
So với các con chó thông minh khác như 'Con chó xấu xí' của Kim Lân, Mumu của Tuốc-ghê-nhép, con Mai-Cơn, con Rếch... hoặc gần gũi hơn là Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, thì với chú chó Bấc, liệu Giắc Lân-đơn chỉ muốn nói về sự thông minh của nó hay là có một triết lí sâu xa nào mà chúng ta chưa khám phá? Triết lí ấy có thể chưa được nhận biết, hoặc chưa được hiểu rõ lúc này, khi mà những trải nghiệm còn ít, nhưng chắc chắn trong mỗi người, ai cũng cảm nhận được tình cảm sâu sắc mà chú chó Bấc dành cho chủ nhân của mình.
Tình cảm đó được viết ra bởi một nhà văn trải qua tuổi thanh xuân gian khổ, từng phải làm đủ mọi công việc để kiếm sống và sớm tiếp xúc với tư tưởng chủ nghĩa xã hội. Giắc Lân-đơn thường nhớ lại về bản thân lúc ấy 'mơ ước về một miếng thịt' và mình lúc ấy 'như một con thú làm việc'. Ông cố gắng thoát khỏi trần tục bằng hai cách: văn học và du ngoạn. Lúc 17 tuổi, sau khi có được một chiếc thuyền con và trải qua những khám phá trên biển, ông đã giành giải với tiểu thuyết Bão biển Nhật Bản và đó đã trở thành nguồn tư liệu quý báu để viết ra tiểu thuyết Bão biển sau này.
Năm 1897, ông lại rời bỏ mọi thứ để đi tìm vàng. Nhưng ông không quan tâm đến vàng, mà quan tâm đến con người và những điều họ đã trải qua. Từ những trải nghiệm đó và niềm đam mê với văn học, Giắc Lân-đơn đã trở thành một trong những nhà văn xuất sắc nhất thế giới, thường được so sánh với Mác-xim Go-rơ-ki của Nga. Các tác phẩm của ông, dù thuộc thể loại nào, đều tập trung vào hai mảng lớn: mối quan hệ giữa con người và con người, và mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Đằng sau các tác phẩm đó là những giá trị nhân văn sâu sắc, là tình yêu cao cả và sự hòa mình của con người với môi trường tự nhiên.
Văn bản Con chó Bấc rút từ tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã cũng thể hiện điều này. Tác phẩm kể về Bấc, một con chó bị bắt cóc đưa lên vùng Bắc Cực kéo xe trượt tuyết cho những người tìm vàng. Bấc trải qua những thời kỳ khốn khổ bên cạnh nhiều ông chủ độc ác. Chỉ có Giôn Thoóc-tơn là người có lòng nhân từ với nó, làm cho nó trở nên ấm áp. Sau cái chết của Thoóc-tơn, nó rời bỏ con người và đi theo tiếng gọi nơi hoang dã, trở thành một con chó hoang. Trong cuộc đời của Bấc, dù có nhiều ông chủ nhưng người duy nhất cho nó tình thương và được nó coi như chủ nhân thực sự chỉ có một, đó là Giôn Thoóc-tơn. Đoạn trích tập trung thể hiện tình cảm của Bấc dành cho vị chủ nhân này.
Tình cảm ấy không tự nhiên mà có, nó xuất phát từ tình yêu thương chân thành của Thoóc-tơn đã làm tan chảy lòng cứng nhắc của Bấc. Do đó, trước khi thể hiện tình cảm của Bấc dành cho Thoóc-tơn, Giắc Lân-đơn tập trung vào việc miêu tả tình cảm của Thoóc-tơn dành cho Bấc khi so sánh với những con người khác. Nếu các ông chủ khác chăm sóc Bấc chỉ vì trách nhiệm 'đã nuôi thì phải chăm sóc' và vì lợi ích kinh doanh 'kéo xe trượt tuyết để đi tìm vàng', thì Thoóc-tơn yêu thương và chăm sóc Bấc bằng cả trái tim. Thoóc-tơn là ông chủ mẫu mực chăm sóc Bấc như 'chúng là con cái của anh vậy'. Trong tâm trí, tình cảm dường như anh ta không xem Bấc là một con chó, mà là một người bạn cùng anh ta làm việc, cùng anh ta trải qua, dựa vào nhau để vượt qua gian khổ trong cuộc sống, chính tình cảm đó đã làm tan chảy và nuôi dưỡng tình cảm của Bấc dành cho Thoóc-tơn. Con đường tới trái tim không có gì chân thật và gần gũi hơn là bắt đầu từ trái tim. Và chỉ có tình yêu mãnh liệt như vậy mới đủ sức cảm hóa người khác.
Bấc dành cho Thoóc-tơn tình cảm đặc biệt, đó là tình yêu thương nồng nàn, sôi nổi, nồng cháy, tôn thờ và cuồng nhiệt. Đó là 'tình yêu thực sự và nồng nàn lần đầu tiên phát sinh ra bên trong nó'. Trước đó, khi sống tại nhà thẩm phán Mi-lơ, nó chưa từng trải qua một tình cảm nào giống vậy, đó chỉ là 'chuyện làm ăn cùng hội cùng phường'. Đó là một loại tình cảm ngang hàng chứ không phải tình yêu như trong mối quan hệ với Thoóc-tơn. Với các đứa cháu nhỏ trong gia đình ông Mi-lơ, đó là 'trách nhiệm ra oai hộ vệ'; còn với ông thẩm phán, đó là 'một loại tình bạn trịnh trọng và đường hoàng'. Sự so sánh, nhớ lại ấy là cách để Bấc thể hiện tình cảm của mình với Thoóc-tơn - vị chủ nhân đặc biệt và duy nhất.
Tình cảm này của Bấc cũng được biểu hiện rất đặc biệt trong việc tự so sánh với Ních và Xơ-kít. Trái với Xơ-kít, người thể hiện tình cảm với Thoóc-tơn bằng sự nũng nịu vì là một cô ả đơn giản và đơn điệu, thói quen 'thọc cái mũi của nó vào dưới bàn tay của Thoóc-tơn rồi hích, hích mãi cho đến khi được vỗ về', Bấc lại tỏ ra mạnh mẽ hơn, đơn giản nhưng có phần suồng sã trong hành động: 'thường chồm lên tì cái đầu to tường của cu cậu lên đầu gối Thoóc-tơn'. Những nhận xét tỉ mỉ, tinh tế ấy không chỉ cho thấy nét đặc biệt trong cách thể hiện tình cảm của từng con chó mà còn làm nổi bật sự khác biệt của Bấc.
'Bấc chỉ tôn thờ từ xa một quãng'. Mặc dù nó cũng sung sướng đến mức cuồng lên mỗi khi Thoóc-tơn chạm vào nó hoặc nói chuyện với nó, nhưng nó không săn đón những biểu hiện ấy. Dù vậy, khi Thoóc-tơn biểu hiện tình cảm với mình, Bấc thể hiện bằng những cách rất riêng. Bấc tỏ ra sung sướng, ngây ngất mỗi khi được chủ ôm đẩu rủ rỉ rủa yêu, mỗi lúc ấy, Bấc cảm thấy “như quả tim mình nhảy tung ra khỏi cơ thể”. Nó “bật vùng dậy trên hai chân, miệng cười, mắt long lanh, họng rung lên những âm thanh không thốt nên lời, và cứ như vậy trong tư thế đứng yên bất động” khoái cảm vô tận.
Không chỉ thế, Bấc có khả năng “biểu hiện tình thương đầy đau đớn giống như khiến người khác phải đau lòng”. Thường xuyên, nó “mở miệng cắn vào bàn tay của Thoóc-tơn mạnh mẽ đến nỗi vết răng chôn sâu vào da thịt một lúc dài”. Cách thể hiện tình yêu này cũng giống như tiếng rủa yêu của Thoóc-tơn, là lời nói ôm, những cử động cắn nhẹ nhàng ấy là cách Bấc thể hiện sự quan tâm, và nếu không có tình cảm sâu đậm, ta có thể hiểu nhầm những cử động này như những vết cắn đau lòng, khiến ta căm phẫn, giận dữ hoặc tức giận với một chú chó.
Tình cảm của Bấc còn được biểu hiện qua những cử động quan tâm tinh tế. Thường xuyên, nó “nằm dưới chân Thoóc-tơn, mắt sáng ngời, tỉnh táo, nhìn lên gương mặt anh, chăm chú quan sát, tận tình theo dõi mỗi biểu hiện nhỏ, mọi cử động hoặc sự thay đổi trên khuôn mặt”. Đôi khi, nó “nằm xa hơn, sang một bên hoặc phía sau Thoóc-tơn, theo dõi từ xa hình dáng và mọi cử động, thái độ của anh.” Bấc luôn theo dõi Thoóc-tơn với tình yêu và quan tâm, dù ở ngay dưới chân anh hoặc xa hơn, thậm chí sau này khi trở về cuộc sống hoang dã, Bấc vẫn dành sự quan tâm đặc biệt cho Thoóc-tơn, trở về nơi đã mất đi anh trong nỗi đau thương, nỗi buồn và sự giận dữ trước hành động tàn ác của con người.
Như vậy, Bấc và Thoóc-tơn thể hiện tình cảm của họ qua ánh mắt. Ánh mắt của Bấc luôn nhìn về Thoóc-tơn và ánh mắt của Thoóc-tơn luôn quay về Bấc, ánh mắt toả sáng là “tình cảm chân thành” của Thoóc-tơn đáp lại “tình cảm của Bấc tỏa ra qua ánh mắt nó”.
Bấc dành cho chủ nhân của mình một tình cảm phong phú và đặc biệt sâu sắc, vừa thương yêu, vừa tôn thờ, vừa kính trọng, biết ơn và sẵn lòng phục tùng đến cùng. Bấc có một tâm hồn khác biệt so với những con chó khác. Sự nhạy bén và nhạy cảm còn khiến Bấc lo lắng về tương lai. Việc thay đổi chủ thường xuyên để lại trong Bấc một nỗi ám ảnh, trong lòng nó “nảy sinh nỗi lo lắng về việc không có chủ nào có thể gắn bó lâu dài”. Cho nên ngay cả đêm, “trong những giấc mơ, nó cũng bị nỗi lo lắng này ám ảnh. Những lúc đó, nó vội dậy và không thể ngủ nữa, trườn ra lạnh giá đến tận lều, đứng đó, lắng nghe tiếng thở đều đặn của chủ”.
Chỉ có tình yêu thương chân thành mới khiến nó lo lắng như vậy. Nhưng chính nỗi lo lắng ấy cũng làm cho mỗi khoảnh khắc càng trân trọng hơn khi được gần bên và gắn bó với nhau. Với Bấc và vị chủ nhân đích thực này có lẽ cũng như vậy.
Bấc đã yêu thương Thoóc-tơn bằng một tâm hồn phong phú. Nếu nhà thơ ngụ ngôn nước Pháp - La Phông-Ten cho các loài vật của mình biết nói, nói giọng con người: “Con quái ác lại gầm lên: - Chính mày khuấy nước, ai quên đâu là/ Mày còn nói xấu ta năm ngoái” thì Giắc Lân-đơn ngược lại. Ông không nhân hóa Bấc thành con người nhưng mô tả nó bằng những gì tự nhiên nhất của một con chó, nhưng qua đó vẫn thể hiện được tình cảm của Bấc, cũng như tình yêu thương mà nhà văn dành cho loài động vật thông minh và trung thành này. Mặc dù Bấc không biết nói nhưng Thoóc-tơn, hay chính Giắc Lân-đơn đã hiểu được tâm hồn không nói được ấy. Trong tình yêu dành cho chủ nhân, Bấc cũng biết suy nghĩ, biết vui mừng và lo sợ, Bấc cũng có những giấc mơ, đó là một đời sống tâm hồn nhạy cảm, phong phú đáng trân trọng.
Khắc họa Bấc, Giắc Lân-đơn đã miêu tả một cách tinh tế và tỉ mỉ, kết hợp với mô tả nội tâm của Bấc bằng trí tưởng tượng và tình yêu thương loài vật sâu sắc. Những nghệ thuật này cùng giá trị nội dung đã tạo nên thành công của đoạn trích Con chó Bấc, Tiếng gọi nơi hoang dã và những tác phẩm khác của ông.
Khi đóng sách, câu chuyện về Bấc vẫn còn đọng lại trong lòng ta với những cảm xúc đẹp về tình yêu nồng nàn, chân thực, vượt qua mọi rào cản về ngôn từ và giống loài. Đó cũng chính là sự cao quý của tình yêu khi vượt qua dam dối vật chất, vượt qua việc làm ăn “đồng tính đồng phường”.
Cảm nhận tình cảm sâu sắc mà Bấc dành cho Thoóc-tơn
Mối quan hệ đáng yêu giữa con người và con vật là điều hết sức tự nhiên. Con người quý trọng con vật vì chúng có ích, còn con vật thì hiền lành, nhớ ơn. Nhưng quan hệ chỉ dừng ở đó, vì con vật dù quý chủ đến đâu cũng chỉ có bản năng. Tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã và trích đoạn Con chó Bấc mang lại cái nhìn mới mẻ, sâu sắc và cảm động về mối quan hệ quen thuộc ấy. Cái nhìn nhân văn, sáng tạo trong cách diễn đạt, mang lại hạnh phúc nhỏ bé nhưng đáng quý.
Tình cảm của Thoóc-tơn dành cho Bấc là tình yêu đặc biệt. Bấc là người hiểu biết và biết ơn. Trong suy tư sâu xa, nó cảm nhận niềm hạnh phúc khi có cơ hội gặp gỡ con người này, người không chỉ cứu sống nó mà còn là một người cha. Chỉ có một người cha mới có thể chăm sóc “con cái” của mình như thế, quan tâm chu đáo và không giới hạn bởi tình yêu. Bấc tự hỏi “vì sao anh lại quan tâm nhiều như vậy”. Điều đó không nói lên sự giới hạn, không nói lên sự chăm sóc của Thoóc-tơn. Cách mà Thoóc-tơn quan tâm, những lời rủ rỉ được gọi là “tầm phào”, làm cho cả hai (người nói và người nghe) đều thích thú. Hơn nữa, cử chỉ thân mật của anh “túm chặt lấy đầu Bấc rồi dựa đầu anh vào đầu nó.”
Trong những khoảnh khắc như vậy, Bấc nghe tiếng rủa từ miệng anh một cách nhẹ nhàng như là “lời nói ngọt ngào”. Niềm hạnh phúc mà Bấc có từ Thoóc-tơn không thể so sánh được, “không có niềm vui nào bằng”. Khi bị “đẩy tới đẩy lui” như vậy, con tim của Bấc “như nhảy ra khỏi cơ thể”. Khi buông ra, nó như một đứa trẻ “bật dậy trên hai chân, cười toe toét, đôi mắt sáng lên”. Những âm thanh trong lòng Bấc rung lên “không thốt nên lời”, khiến Thoóc-tơn cũng bất ngờ và hạnh phúc: “Trời ơi ! Nó hầu như biết nói đấy !”. Đó là một đứa trẻ đang học nói, muốn diễn đạt bằng một ngôn ngữ riêng mà con người có thể hiểu được. Điều kì diệu này không phải lúc nào cũng xảy ra, đến từ tâm hồn của Thoóc-tơn với loài vật của mình. Tình yêu đó, qua cảm xúc của Bấc được mô tả bằng nhiều cách: cử chỉ, lời nói, mở ra nhiều khía cạnh, mỗi lúc một trìu mến, thương yêu tăng lên một bậc.
Tình cảm của Bấc đối với Thoóc-tơn là tương ứng với những gì nó nhận được. Đó là lòng biết ơn và ý thức sâu sắc về việc đền đáp. Bấc suy nghĩ như một con người, phân biệt được đúng sai và lòng tốt. Trước khi gặp Thoóc-tơn, với những cậu con trai của ông Thẩm, nó chỉ biết đến một mối quan hệ “chỉ là cùng nhau làm ăn” hoặc “ra oai hộ vệ”. Nhưng khi gặp Thoóc-tơn, nó mới hiểu được một tình yêu lớn lao đến như vậy. Đó là trách nhiệm của kẻ đền ơn, trao thương yêu để đáp lại thương yêu. Cách thể hiện lòng biết ơn của nó cũng đặc biệt, từ một con vật tình nghĩa với con người, biểu lộ tình yêu gần giống như làm đau người ta. Bấc thường “cắn lấy bàn tay Thoóc-tơn rồi ép răng xuống mạnh đến nỗi vết răng hằn vào da thịt một lúc lâu”.
Câu văn miêu tả tâm trạng của Bấc như một tiếng reo vui: “Tình yêu thương, một tình yêu thương thực sự và nồng nàn lần đầu tiên phát sinh ra bên trong nó”. Bấc ngẫm nghĩ để rồi nhận ra một tình yêu sôi nổi, nồng cháy, tôn thờ và cuồng nhiệt đã tồn tại trong lòng nó từ trước. Trong cuộc sống, Bấc đã gặp nhiều người, nhưng chỉ với Thoóc-tơn, nó mới thấy được mái nhà của mình, nó mới thực sự yêu. Thái độ của nó là trách nhiệm của kẻ đền ơn, trao thương yêu để đáp lại thương yêu (không phải là công việc như kéo xe trượt tuyết giúp chủ tìm vàng ở vùng Bắc cực). Và cách thể hiện lòng biết ơn - ngôn ngữ của tình yêu của nó cũng đặc biệt, trước hết vẫn là của một con vật tình nghĩa với con người, biểu lộ tình yêu gần giống như làm đau người ta. Bấc thường “cắn lấy bàn tay Thoóc-tơn rồi ép răng xuống mạnh đến nỗi vết răng hằn vào da thịt một lúc lâu”.
Tuy vậy, Bấc cũng là một con vật kiên nhẫn, nó biết kiềm chế sự “vuốt ve”. Nó khác với cô ả Xơ-kít có thói quen “thọc cái mũi vào dưới bàn tay” cho đến khi được vỗ, cũng khác với con Ních “chồm lên tìm đầu to tướng của cậu bé để đặt lên đầu gối”. Không hề lòi ra, nó lặng lẽ, nghiêm túc “quan sát” và theo dõi “mọi biểu hiện thoáng qua, mọi cử động hoặc thay đổi trên khuôn mặt” của Thoóc-tơn không phải để nghi ngờ mà là để cảm thấy hạnh phúc. Chỉ cần vậy, thậm chí còn “hơn nữa”, nó hiểu rằng điều gì sẽ đến. Giác quan đặc biệt từ sợi dây thần kinh nhấp nhô và nó chấp nhận. Chỉ cần sức mạnh của ánh mắt không lời như thế, Thoóc-tơn sẽ quay đầu sang nhìn nó và đôi mắt của anh ta “tỏa sáng tình cảm từ đáy lòng”, và đôi mắt của Bấc cũng “chiếu sáng” như vậy. Nhưng hạnh phúc đối với nó quá lớn lên đến mức rất mong manh.
Nó lo lắng rằng một ngày nào đó, giấc mơ đẹp đẽ đó sẽ tan biến, biến mất khỏi tầm tay. Thực tế thường phũ phàng, đắng cay. Con vật như nó không có giá trị gì, việc thay đổi chủ như thay áo, diễn ra luôn xoay quanh như nó đã biết từ khi đến phương Bắc lạnh giá đến nay. Một ám ảnh, một cơn ác mộng sẽ đến nếu số phận của nó giống như những cuộc gặp gỡ trước đó với Pê-rôn, Phơ-răng-xoa, hay anh chàng người lai Ê-cốt. Vì vậy, Bấc phải cảnh giác, phải giữ gìn. Cả ban ngày lẫn ban đêm. Đêm đêm, trong nỗi lo sợ mơ hồ, Bấc thường tỉnh giấc, trườn qua giá lạnh đến tận mép lều, đứng đấy, lắng nghe tiếng thở đều đều của chủ. Chỉ có tiếng thở bình yên của chủ mới có thể làm cho thần kinh hoảng loạn của Bấc trở về với trạng thái bình thường.
Bài viết là một đoạn trích từ một tiểu thuyết, là một phần nhỏ của cuộc sống thực, một khoảnh khắc trong sự giao tiếp giữa con vật và con người. Tính độc lập và toàn vẹn của đoạn văn là tương đối. Tuy nhiên, ta vẫn có thể nhận ra sự tài năng trên nhiều mặt. Điểm nổi bật là mô tả kết hợp với chứng minh. Chứng minh đó tạo ra một kết cấu toàn diện bắt đầu từ một nhận định về tình yêu thương đối với con vật như Bấc. Cách mà Bấc chịu ơn và tìm cách đền đáp rất dễ phân tích cũng nhờ vào phương pháp chứng minh. Nhưng khi đi sâu vào các chi tiết về suy nghĩ và cảm xúc của Bấc, ta lại gặp một thiên tài.
Ngòi bút mô tả tâm trạng của con vật rất tinh tế, mang nhiều cảm xúc trữ tình, tạo ra ấn tượng sâu sắc về lòng biết ơn. Biện pháp tu từ trong đoạn trích chủ yếu là so sánh. So sánh tình cảm ở những cung bậc khác nhau (ví dụ, giữa Bấc với gia đình Thẩm phán và giữa nó với người chủ mới Thoóc-tơn, so sánh giữa con vật này với con vật khác (so sánh với Xơ-kít, Ních), đặc biệt là so sánh giữa con vật và con người khi Bấc tỉnh giấc, vùng dậy trên hai chân với đôi mắt rạng ngời. Trông nó không khác một con người chỉ là âm thanh phát ra chưa thật rõ ràng, rành mạch. Câu văn trong đoạn trích hầu hết là câu dài, nhiều vế, tạo ra sự phong phú cho cảm xúc đa chiều. Sử dụng ý đó nhằm mục đích mô tả tính cách của một con vật rất gần gũi với con người - con Bấc. Chẳng hạn “con người này đã cứu sống nó, đó là một lẽ, nhưng hơn thế nữa...”. “Những người khác chăm sóc chó của họ... còn anh...”. “Bấc cảm thấy không có gì vui sướng bằng...”. Những câu văn vừa mở cửa vừa trang trọng ấy gần với thơ ca, nhưng vẫn giữ được sự chân thực, gợi lên vẻ đẹp đáng kính ngưỡng.
