
Bài viết này không khuyến khích việc loại bỏ Tết âm lịch, mà thúc đẩy việc tìm hiểu về nguồn gốc, bảo tồn hoặc khôi phục những giá trị truyền thống đã mất trong quá trình hội nhập với thế giới…
Có thể trong những năm tới, câu hỏi này sẽ tiếp tục là đề tài nóng mỗi khi Tết đến với người Việt Nam.
Khi tham gia vào cuộc tranh luận này, mỗi người đều có thể bị coi là mất gốc, không trung thành với tổ tiên, hoặc bị xem là quá cứng nhắc, chìm đắm trong quan điểm của mình và v.v…
Trong nhiều vấn đề khác, một số người Việt có thể quá dễ dãi trong việc chấp nhận một thái độ cực đoan và thường gặp khó khăn trong việc lắng nghe ý kiến khác biệt.
Ý kiến của tôi có thể có những điều chưa chính xác, nhưng chỉ cần bạn kiên nhẫn đọc đến hết, tôi đã rất biết ơn.
Ôn nguồn gốc của ba chữ “Tết Nguyên Đán”
Hiện nay, đa số người Việt, kể cả trên báo chí chính thống, thường nói và viết về “Tết Nguyên Đán” mà chưa chắc đã hiểu nguồn gốc của ba chữ này.
Nhiều người giải thích rằng chữ Tết trong tiếng Việt có nguồn gốc từ chữ Tiết trong âm lịch; Tiết 節 trong tiếng Hán trung cổ phát âm là “Tset”. Nguyên Đán cũng là từ gốc Hán: “nguyên” 元= sơ khai, “đán” 旦= ngày.
Nói vậy, cụm từ “Tết Nguyên Đán” đang khẳng định một hiểu lầm rằng người Việt đang bắt chước một phần văn minh phương Bắc.
Tại sao lại là hiểu lầm, tôi sẽ phân tích trong phần tiếp theo. Nhưng chúng ta hãy bắt đầu với lời đề xuất rằng người Việt muốn khám phá nguồn gốc của mình không thể không nghiên cứu lịch sử Trung Quốc (China).
Điều thú vị là trong khi người Trung Quốc gọi đất nước của họ là “Zhong Guo” (中国, Trung Quốc), thì hầu hết các quốc gia không chấp nhận phiên âm từ tiếng Hoa, mà gọi nước này là “China” (Anh, Đức, Mỹ, Úc…), “la Chine” (Pháp), “Kitai” (Nga) v.v… China/Chine/Sino có nguồn gốc từ Qin (đọc là Chin, dịch sang Hán-Việt là Tần): triều đại Tần nổi tiếng với Tần Thủy Hoàng.
Dân tộc Trung Quốc từ xưa tự gọi mình là quốc gia ở trung tâm, được bao quanh bởi các dân tộc Man, Di, Rợ, Khương...
Trong thời cổ đại trên lãnh thổ của China ngày nay, có nhiều quốc gia nhỏ, bao gồm hai dòng dân chủ yếu là người Hán và Bách Việt. Người Hán sinh sống ở phía Bắc, còn Bách Việt sinh sống ở phía Nam của sông Dương Tử (hay còn gọi là sông Trường Giang).
Hán Khẩu, một điểm địa lý cổ xưa, hiện đã hòa nhập vào thành phố Vũ Hán, tại nơi sông Hán hợp lưu vào sông Dương Tử.
Những người Bách Việt nguyên thủy thường chủ yếu là những nông dân trồng lúa, không có kỹ năng sử dụng cung nỏ và cưỡi ngựa như những người Hán du mục hay săn bắn, do đó dần dần họ đã bị người Hán chiếm đóng và hòa nhập vào dân tộc Trung Hoa ngày nay.
Trong quá trình hòa nhập đó, nhiều nét văn hóa của người Bách Việt, bao gồm cả của Việt Nam, đã được hòa quyện vào văn hóa Trung Quốc, bao gồm cả lịch âm và lễ hội Tết truyền thống có nguồn gốc từ nền văn minh trồng lúa.
Lịch Âm lịch bao gồm các tháng là Dần (Giêng), Mão (Hai), Thìn (Ba), Tỵ (Tư), Ngọ (Năm), Mùi (Sáu), Thân (Bảy), Dậu (Tám), Tuất (Chín), Hợi (Mười), Tý (Một), Sửu (Chạp). Một ngày cũng được chia thành 12 giờ theo tên của 12 con giáp.
Lịch sử Trung Quốc ghi lại rằng việc lựa chọn ngày bắt đầu của một năm đã trải qua nhiều biến đổi qua các triều đại khác nhau: Triều Hạ chọn vào tháng Dần, triều Thương chọn tháng Sửu, triều Chu chọn tháng Tý, triều Tần chọn tháng Thìn, và sau đó triều Hán lại quay trở lại tháng Dần.
Từ thời triều Hán, Tết Nguyên Đán, tức là tiết đầu năm mới âm lịch, đã được cố định vào ngày đầu tiên của tháng Dần (tháng Giêng).
Việt Nam bắt đầu chịu sự chi phối từ Trung Quốc từ thời nhà Hán. Trước đó, có thể tổ tiên chúng ta ăn Tết vào đầu tháng Tý thay vì tháng Dần như hiện nay. Tuy nhiên, qua hàng ngàn năm bị chi phối, ký ức về Tết và nhiều nét văn hóa khác đã bị lãng quên và thay đổi dần dần.
Tìm hiểu về Tết Nguyên Đán trong lịch sử Việt Nam
