
Việc chúng ta có mặt trên thế giới này là bị động; nhưng việc sống ra sao là do chúng ta lựa chọn, có phải chúng ta tự chủ động với nó hay tiếp tục sống theo cách bị động? Sống hiện tại có thể được coi là giải pháp cho những ai muốn tự chủ động 'nhảy múa' trên con đường cuộc sống đã được gán cho họ, hoặc tự chủ nhận nó?
Bài số 1: Thể chất
Bài số 2: Hiện tại
Tình yêu có thể là nền móng của một cuộc sống quyết đoán hoặc là gốc của sự tự dối lòng, của cả sự tự do và sự ràng buộc người khác, vì vậy không dễ dàng nói chủ nghĩa hiện sinh có một quan điểm nhất quán về nó.
Một mặt, tình yêu là điều khiến phần lớn người lo lắng quá mức, khiến họ lo lắng hoặc tự làm phiền mình một cách không cần thiết, hoặc khiến họ tưởng rằng họ hạnh phúc hơn hoặc đau khổ hơn so với thực tế. Mặt khác, nó có thể thúc đẩy họ loại bỏ những điều mà họ coi là đương nhiên vì muốn sống MẠNH MẼ HƠN, giúp họ sống một cách dũng cảm hơn theo chủ nghĩa hiện sinh.
Đối với nhiều người, tình yêu được xem là trải nghiệm tốt nhất trong cuộc đời, điều mà mọi người PHẢI TRẢI QUA để cuộc sống có ý nghĩa, nó đơn giản là niềm tin tôn giáo, cũng có thể coi là trọng tâm của một tôn giáo đặc biệt.
Điều này không có nghĩa là những người theo chủ nghĩa hiện sinh sống vô cảm, nhưng đôi khi cảm xúc của họ có vẻ kín đáo, điều đó là hợp lý. (Không phải ngẫu nhiên mà tôn giáo duy nhất chia sẻ điểm chung với chủ nghĩa hiện sinh là đạo Phật. Đó là vì người theo đạo này coi trọng một số trạng thái cảm xúc như lòng từ bi, trấn an, nhưng họ cũng rất cẩn trọng tránh xa tình cảm quá đỗi mãnh liệt có thể đi kèm với chúng.)
Người theo chủ nghĩa hiện sinh yêu người khác một cách sâu sắc không phải là điều khó hiểu - chỉ không phải là kiểu tình yêu phổ biến trong xã hội ngày nay. Một người hành động theo tinh thần hiện sinh không liên quan đến mối quan hệ tình yêu ràng buộc người kia hay ÉP buộc họ phải cư xử với mình theo cách này hay cách khác. Nếu người yêu của tôi yêu tôi theo cách mà tôi đáp ứng, tình cảm đó phải là SỰ BIỂU LỘ TỰ DO CỦA HỌ, không phải là một nghĩa vụ, và nhất định không phải là kết quả của một lời hứa với tôi, hoặc chỉ đơn giản là với chính họ, hoặc trước mặt cộng đồng hoặc trước mặt 'Chúa', rằng họ sẽ tiếp tục yêu tôi mãi mãi.
Người theo chủ nghĩa hiện sinh có thể yêu “vì duyên', với điều kiện là từ “duyên' ở đây chỉ được hiểu theo nghĩa bóng. (Theo nghĩa đen thì chỉ nói được về sự lựa chọn cá nhân hoặc về “sự cam kết hiện sinh” dựa trên một quyết định tôi đưa ra một cách tỉnh táo: không được nhắm mắt trước bất kỳ sự thật nào, kể cả thực tế là tình cảm của con người có thể héo tàn theo thời gian.)
Một điều quan trọng ở đây có thể nghe có vẻ lạ là một người theo chủ nghĩa hiện sinh có thể có khả năng yêu một cách đơn phương trong thời gian dài. Nhân vật tiêu biểu trong những tiểu thuyết của Nguyễn Nhật Ánh, là một chàng trai tuổi teen đơn phương với một cô gái cùng quê, và tiếp tục yêu kiên trì sau khi cô ấy chọn người khác, trong một ý nghĩa nào đó có thể đại diện cho người cam kết hiện sinh, miễn là không hối tiếc, không tự hủy hoại bản thân.
Đồng ý rằng tình yêu được đáp lại mang lại nhiều niềm vui hơn việc yêu một cách đơn phương, nhưng niềm hạnh phúc đối với người theo chủ nghĩa hiện sinh chỉ có giá trị tương đối. Sống chân thành với niềm đam mê “thống trị' của mình, ngay cả khi điều đó khiến bản thân đau đớn hay bất hạnh, là sự lựa chọn chính đáng, có thể coi là can đảm hơn việc chỉ yêu một cách đơn phương.
Từ “góc nhìn hiện sinh', việc rút lại tình cảm của mình chỉ vì nó không được đáp lại đầy đủ có vẻ hơi thực tế, nó đặt ra câu hỏi liệu tình cảm đó thực sự là tình yêu hay chỉ là một loại bóng dáng tạm thời khác. Nếu tôi “yêu' người khác chỉ vì sự yêu thương, sự quan tâm hay sự chú ý của họ dành cho mình thì không thể nào khẳng định rằng tôi đang yêu; nói rằng tôi chủ yếu yêu chính bản thân mình mới đúng. Tình cảm được nhiều người mệnh danh là tình yêu thực sự chỉ là một hình thức biến tấu của lòng tự ái; những ai theo chủ nghĩa hiện sinh từ chối sự kiêng nhẫn và đắm chìm được coi là “lãng mạn'.
Nếu cần phải chọn một nhân vật chính trong sách của Nguyễn Nhật Ánh (ví dụ như trong Mắt Biếc) để đại diện cho một phần của thái độ hiện sinh đối với tình yêu thì nhân vật chính trong Người Xa Lạ, Mersault, có thể là biểu hiện rõ nét của điều ngược lại. Mersault có ý định kết hôn với người yêu (tên là Marie), nhưng anh ấy vẫn không ẩn giấu sự thật là anh ấy KHÔNG yêu cô ấy. Từ “góc nhìn thông thường', anh ta có vẻ như là một người lạnh lùng, thậm chí đối với Marie cũng thấy xa lạ. (Có lẽ đó là một trong những lý do mà sách có tựa đề như vậy.) Nhưng với anh ta, việc trải nghiệm trực tiếp sự tồn tại độc đáo của Marie - sự giản dị, sống động, cụ thể - là đủ. Mối quan hệ giữa hai người (đối với anh ta) không cần phải được giải thích bằng khái niệm huyền thoại về tình yêu hay những cảm xúc sâu sắc hay vĩnh cửu nào khác nữa.
Gia đình và hôn nhân
Theo chủ nghĩa hiện sinh, gia đình không được coi là thứ thiêng liêng, và việc làm cha mẹ ở Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Cách suy nghĩ rằng hôn nhân được chứng nhận bởi Chúa, các thần thánh hoặc tổ tiên của gia đình hai bên, khiến cho hôn nhân trở thành một truyền thuyết dân gian.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là người theo chủ nghĩa hiện sinh sẽ không kết hôn hoặc không thể có một hôn nhân vững chắc. Như đã nói, ngay cả nhân vật chính trong tiểu thuyết Người Xa Lạ, Mersault, đã cân nhắc việc kết hôn với người yêu, Marie. Anh ta không cần phải suy nghĩ nhiều để đưa ra quyết định: Anh ta yêu Marie, cảm thấy cô ấy hấp dẫn, và nghĩ rằng việc hai người kết hôn sẽ khiến cô ấy hạnh phúc. Đối với anh ta, kết hôn là cách để thể hiện sự tự do của mình một cách tự nhiên; mọi đánh giá thông thường về tính cách của Marie, sự phù hợp giữa hai người, hay triển vọng cho tương lai, đều không quan trọng.
Quan trọng là anh ta có hứng thú với việc kết hôn, mặc dù anh ta không đồng ý với cách suy nghĩ của Marie về “điều kiện hiện sinh' của hôn nhân. Đối với Marie, hôn nhân là điều cần phải trải qua một cách tốt đẹp trước tiên, là biểu hiện của tình yêu, gần như là sự BẮT BUỘC hai người phải kết hôn. (Một cách suy nghĩ khá phổ biến ở Việt Nam!) Trong khi đó, đối với Mersault, việc kết hôn là sự lựa chọn của cả hai người, không phải là điều nên làm chỉ vì có sự phù hộ từ Chúa, gia đình hay xã hội, cũng không cần dựa vào một cảm xúc gần như thiêng liêng được gọi là tình yêu.
Tín Ngưỡng Tôn Giáo
Chúng ta đã nói về cách mà các tín đồ tôn giáo thiêng liêng hóa một số trải nghiệm con người, như là cách họ hiểu về tình yêu và hôn nhân. Bây giờ, hãy nói về quan điểm của triết lý hiện sinh đối với các tín ngưỡng tôn giáo nói chung.
Các tín đồ tôn giáo thường tin rằng cuộc sống con người có ý nghĩa “đến từ bên ngoài' hoặc “từ trên cao xuống' - tức là nó bắt nguồn từ quyền lực siêu nhiên ngoài tầm hiểu biết của con người - điều này không chỉ sai mà còn có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm. Nếu lấy quan điểm khoa học là cách nhìn thế giới hợp lý, đúng sự thật, thì có thể nói rằng khoa học không hỗ trợ quan điểm rằng thế giới được một vị Thượng Đế tạo ra, hoặc rằng một con người đã sống và chết cách đây 2000 năm để cứu chuộc; tương tự, quan điểm về sự tái sinh đảm bảo rằng việc làm thiện sẽ được thưởng bằng cách sống tiếp sau này trên thiên đường hoặc trong kiếp sau, là hoàn toàn không có căn cứ.
Nội dung cốt lõi của tôn giáo, từ góc nhìn của triết lý hiện sinh, là một loại hy vọng ảo. Dù không thể phủ nhận rằng cuộc sống con người sẽ tốt đẹp hơn nếu có một Thượng Đế tử tế và toàn năng chi phối thế giới này, hoặc nếu những người tốt được thưởng bằng cách được sống trên thiên đường, nhưng đáng tiếc (theo triết lý hiện sinh) không có gì thuyết phục chúng ta tin vào điều này, trừ sự hy vọng rằng cuộc sống con người có ý nghĩa hơn. (Bổ sung thêm cho đoạn trước một chút: những niềm tin tôn giáo vào quyền lực siêu nhiên và ý nghĩa cao cả có cơ sở nhất định: đó là hoàn toàn trong nhu cầu tình cảm của con người, không phải dựa trên thực tế hay thế giới ngoài.)
Tuy nhiên, điều quan trọng mà chúng ta cần chú ý là niềm tin tôn giáo không chỉ xuất phát từ . . . các hệ thống tín ngưỡng tôn giáo. Con người đã từng tin vào chính trị, nghệ thuật, tình yêu, thời trang, tiền bạc, và nhiều thứ khác, như là các giá trị tôn giáo, thậm chí thuyết vô thần có thể trở thành một loại tôn giáo cuồng tín. Vì vậy, từ góc nhìn của triết lý hiện sinh, PHONG CÁCH THEO TÔN GIÁO cũng quan trọng không kém nội dung của tôn giáo đó. Có những cách theo đạo (được triết lý hiện sinh coi là) 'sai một cách có duyên', và có những đạo (hoặc hệ thống tư tưởng khác) có thể đúng sự thật hơn nhưng cách mà người ta theo vẫn hẹp hòi, tị nạnh.
Để hiểu giá trị của hai đạo hoặc hai hệ tư tưởng khác nhau, ta cần đánh giá CÁCH SỐNG của những người theo đó, đặc biệt là những hoạt động và cách họ nói, hơn là những tín điều hoặc lý luận. Đối với triết lý hiện sinh, phong cách sống là quan trọng nhất, và niềm tin chỉ là một phần nhỏ.
Các hệ tư tưởng thực sự đối lập với triết lý hiện sinh là những hệ tư tưởng thúc đẩy sự phê phán hoặc oan trách người khác, thường được biểu hiện qua việc phân biệt người này và người kia, đặc biệt là trong các tín ngưỡng tôn giáo khi khuyến khích sự kỳ thị với những người theo tín ngưỡng khác hoặc có quan điểm khác. Ví dụ, một số người theo Tin Lành ở Mỹ gần như coi trọng việc căm ghét những người có quan điểm xã hội khác biệt. (Ngược lại, một số người ủng hộ quyền của người da màu, người đồng tính, phụ nữ quyết định phá thai, thường bị coi là kẻ căm ghét bởi những người Tin Lành.)
Ở đây, điều quan trọng là lòng căm thù và oán hận, thường được khuyến khích trong một số tín ngưỡng tôn giáo, thường không phù hợp với tính nhẹ nhàng và tỉnh táo, là những phẩm chất cốt lõi của triết lý hiện sinh.
Cameron Shingleton
