Dân bản địa Úc là người đầu tiên phát hiện ra quỷ Tasmania, chúng là loài động vật bí ẩn và ít khi gặp con người.
Ở Úc, một đất nước rộng lớn nhưng dân số thưa thớt, tồn tại một loài gọi là 'quỷ Tasmania'. Loài này chỉ còn sống ở Tasmania với số lượng nhỏ, và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao. Vì lẽ đó, Úc coi chúng là bảo vật quốc gia.
Quỷ Tasmania có hình dáng nhỏ nhắn, lông đen, mắt nhỏ và miệng to, những đặc điểm này khiến chúng được biết đến như 'ác quỷ' trong thế giới động vật.
Trong quá khứ, khi thực dân châu Âu đổ vào Úc, quỷ Tasmania đã bị săn bắn dữ dội, khiến chúng gần như biến mất.
Ngày nay, các nhà khoa học đang nỗ lực bảo vệ quỷ Tasmania, nhưng vẫn chưa biết khi nào chúng có thể tránh khỏi nguy cơ tuyệt chủng.

Thực tế, quỷ Tasmania rất hung dữ và có thể tấn công kẻ thù cũng như đồng loại một cách tàn nhẫn.
Miệng của quỷ Tasmania có khả năng mở ra và đóng lại ở góc 180 độ, chúng cũng có thể dễ dàng tiêu diệt con mồi nặng gấp 6 lần trọng lượng của chính mình.
Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng so với các loài động vật cùng kích thước, quỷ Tasmania có sức cắn mạnh nhất. Nếu so sánh với sư tử hoặc hổ, sức cắn của quỷ Tasmania gấp ba lần.

Trăm năm trước, thổ dân Úc phát hiện ra quỷ Tasmania, nhưng chúng hiếm khi xuất hiện trước con người. Tại sao chúng được gọi là quỷ Tasmania?
Điều này bắt nguồn từ thói quen hoạt động của chúng về đêm và tiếng hú đáng sợ khi săn mồi vào ban đêm.
Ngoài ra, quỷ Tasmania có sức cắn mạnh, có thể cắn đứt thanh sắt và thậm chí làm hỏng bẫy thú. Chúng còn phát ra mùi hôi và thường ăn xác chết, khiến thổ dân địa phương tin rằng chúng là ác quỷ.

Quỷ Tasmania có thân hình nhỏ nhắn nhưng rất mạnh mẽ, ngoại trừ phần lông trắng ở cổ họng và đuôi, toàn bộ lông đều màu đen.
Chúng ăn rất nhiều, có thể ăn lượng thức ăn bằng 1/2 trọng lượng cơ thể. Chúng không kén chọn thức ăn, có thể ăn mọi thứ từ rắn, thằn lằn, chuột túi, gấu túi đến thỏ rừng, thậm chí cả rác và lốp xe.
Khi ăn mồi, quỷ Tasmania sử dụng lực đẩy để tiêu diệt con mồi, sau đó nuốt chửng xương mà không để lại dấu vết, thể hiện sức mạnh kinh khủng. Chúng có thể ăn hết một con kangaroo lớn chỉ trong vài phút.

Với mùi hôi thối, quỷ Tasmania tạo ra sự khó chịu, khi gặp nguy hiểm chúng tiết ra nước bọt hôi từ miệng. Điều này làm cho ít người ưa thích chúng.
Mặc dù có mùi hôi, quỷ Tasmania vẫn có phần sạch sẽ. Sau khi kiếm ăn, chúng tắm rửa trong ao, dùng móng vuốt cọ rửa má và tai giống như mèo. Sau đó, chúng chải sạch máu trên lông trước khi vào hang nghỉ ngơi.

Là loài có túi, quỷ Tasmania nuôi con non trong túi. Phần sau cổ của con cái khi động dục sẽ sưng lên và phát ra mùi khó chịu, thu hút đực. Các đực sẽ gào rú và đánh nhau để chiếm lãnh thổ và giao phối.
Trong cuộc đấu tranh cho quyền giao phối, các con đực chiến đấu ác liệt, thường tấn công vào các phần quan trọng như mặt và cổ của đối thủ. Con cái chỉ đứng nhìn cuộc chiến và sau đó chạy ra khỏi hang.
Sau khi giao phối, con cái sẽ cố gắng trốn khỏi hang, trong khi đó, đực sẽ cố gắng giữ chúng lại. Điều này là vì con cái có xu hướng cần sự đa dạng gen, nên chúng có thể có con từ nhiều con đực khác nhau.
Quỷ Tasmania có sự quan tâm đặc biệt đến việc chọn lựa đối tác giao phối. Nếu một con đực buông lỏng cảnh giác, con cái có thể chọn con đực khác để giao phối.
Sau 7 ngày 'hẹn hò', khối u trên cổ của quỷ Tasmania cái sẽ biến mất và thời kỳ động dục cũng kết thúc. Lúc này con đực sẽ để con cái tự do và làm những điều thích.

Khi mang thai, bụng của quỷ Tasmania cái sẽ lớn hơn và cử động chậm lại. Nếu bị tấn công, chúng sẽ chết ngay lập tức.
Con đực sẽ trở thành vệ sĩ cho con cái, chờ đợi và tìm thức ăn cho chúng. Thời gian mang thai chỉ kéo dài một tháng, mỗi lần có thể sinh khoảng 20 con non, nhưng không phải tất cả sống sót.
Trong túi, các con quỷ Tasmania tranh giành sữa và sinh tồn. Một số con nhỏ và yếu sẽ chết đói.

Con non sống trong túi khoảng 100 ngày, nhưng thời gian cho con bú của cái kéo dài 8 tháng, khi cái phải đi kiếm ăn với đàn con.
Khi sống độc lập, quỷ Tasmania non sẽ có sức đề kháng cao, không bị mắc bệnh dù ăn rắn độc hay xác thối.
Nguồn: Grunge; Phys.org; USGS
