1. Bài số 1
2. Bài số 2
3. Bài số 3
Viết bài về Lẽ ghét thương (trích từ truyện Lục Vân Tiên) trang 48 trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 tập 1
Viết bài về Lẽ ghét thương, Tóm tắt 1
Câu 1:
- Lẽ ghét: Tính đặc trưng chung của các triều đại: đều thể hiện sự suy tàn, vua chúa lúc nào cũng say sưa với hưởng thụ, không quan tâm đến cuộc sống của dân chúng.
⟹ Nền tảng của lẽ ghét: Thái độ của ông Quán vì dân. Luôn ủng hộ dân chúng.
- Lẽ thương: Các bậc tiên hiền, những người hiếu đức, người có tài và đức, muốn cống hiến để giúp đỡ đời sống, giúp đỡ dân chúng, nhưng không ai đạt được ước mơ của mình.
⟹ Nền tảng của tình thương: Bắt nguồn từ lòng thương yêu dân chúng sâu sắc, mong muốn mang lại hạnh phúc và yên bình cho dân chúng, những người có tài năng và đạo đức có thể thực hiện ước mơ của mình.
Tóm lại, lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu bắt nguồn từ lòng yêu thương dân chúng, mong muốn mang lại hạnh phúc cho họ, và những người tài năng có đạo đức và điều kiện có thể thể hiện ý định của mình.
Câu 2:
- Bài thơ sử dụng phép điệp từ với tần suất lặp lại cao: 12 lần ghét = 12 lần thương. Điều này thể hiện sự trong trắng, sâu sắc trong tâm hồn của tác giả. Thương là nguồn gốc của cảm xúc, và ghét cũng xuất phát từ thương.
- Sự đối lập: Ghét ghét so với thương thương; Hoặc ghét so với thương; Thương ghét so với ghét thương; lại ghét so với lại thương.
Câu 3:
Ý nghĩa của câu “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” là thể hiện sự trong trắng, sâu sắc trong tâm hồn của tác giả. Đó là một mối quan hệ không thể tách rời. Ngày càng yêu thương dân chúng, tiếc thương những người tài đức, lại càng căm ghét những kẻ hại dân. Tình cảm này rất rõ ràng, quyết liệt và mãnh liệt. Thương ghét đều chân thành, sắc nét nhưng đồng thời cũng rất giản dị.
Bài tập:
Trong đoạn trích, câu thơ “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” là tâm hồn và tư tưởng của toàn bộ đoạn văn. Sự ghét xuất phát từ lòng thương, và thương chính là nguồn gốc. Hai cảm xúc đối lập nhưng thực chất là sự đồng nhất, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau.
Đọc và ôn lại các bài học gần đây để nắm vững kiến thức môn Ngữ Văn lớp 11
- Luyện tập về phân tích luận điểm
- Tổ chức viết về bài thơ Chạy giặc
- Viết bài về Bài ca phong cảnh Hương Sơn
Viết bài về Lẽ ghét thương, Tóm tắt 2
I. Tổng quan về tác phẩm
1. Lục Vân Tiên
- Bối cảnh sáng tác: Thời kỳ đầu những năm 50 của thế kỷ XIX.
- Thể loại: Truyện thơ Nôm có tính dân gian.
2. Đoạn trích Ghét lẽ thương là phần trích dẫn từ câu 473 đến câu 504 trong truyện Lục Vân Tiên, mô tả cuộc trò chuyện giữa ông Quán và bốn thanh niên nho sĩ (Vân Tiên, Từ Trực, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm) trong quán rượu của ông trước khi họ đi thi.
II. Hướng dẫn viết bài
Bài 1 (trang 48 sách giáo khoa Ngữ Văn 11 Tập 1):
- Những triều đại mà ông Quán ghét: đời Kiệt, Trụ, đời U, Lệ, đời Ngũ bá thời Xuân Thu, đời thúc quý.
→ Tất cả các triều đại mà ông Quán phê phán đều có một điểm chung, đó là sự suy tàn. Những vị vua thường say sưa trong chén rượu, không quan tâm đến cuộc sống của nhân dân.
=> Nguyễn Đình Chiểu đã lên án các triều đại suy tàn, đứng về phía nhân dân. Đó là nền tảng của sự ghét, một cảm xúc sâu sắc và đắng cay.
- Những điều ông Quán thương: những nhà hiền, thánh nhân như thầy Nhan Tử, ông Gia Cát, thầy Đồng Tử, Nguyên Lượng, ông Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc.
→ Đây là những người có tài, có đức, có ý muốn giúp đời, giúp dân nhưng không thể thực hiện được. Họ đồng cảm với Nguyễn Đình Chiểu, và sự thương xót ở đây là lòng đồng cảm sâu sắc từ tấm lòng nhà thơ.
=> Nguyễn Đình Chiểu đã bắt đầu từ cuộc sống, từ lòng yêu thương của nhân dân mà thương, tiếc cho những tài năng bị chính triều đại vùi dập.
Bài 2 (trang 48 sách giáo khoa Ngữ Văn 11 Tập 1):
Đoạn trích thành công trong việc sử dụng cặp từ đối nghịch ghét – thương. Từ ghét và thương được lặp lại 12 lần, sắp xếp một cách linh hoạt (hay ghét – hay thương; thương ghét – ghét thương...) để biểu hiện nổi bật và phân minh hai cảm xúc trong tâm hồn tác giả. Với nhà thơ, ghét và thương là hai cảm xúc rõ ràng, sâu nặng, không lẫn lộn, và đều đạt đến đỉnh cao của cảm xúc.
Bài 3 (trang 48 sách giáo khoa Ngữ Văn 11 Tập 1):
Vì chưng hay ghét cũng là hay thương
Câu này mang tính triết lí đạo đức, đầy cảm xúc và chân thành. Thương và ghét là hai cảm xúc có mối liên kết chặt chẽ trong tâm hồn của nhà thơ. Tình thương và tình ghét đan xen nhau, cùng chia sẻ một nhịp điệu với cuộc sống, với nhân dân.
=> Đây là đỉnh cao của tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Đình Chiểu.
II. Bài tập
(trang 48 sách giáo khoa Ngữ Văn 11 Tập 1): Theo ý kiến của bạn ...
Câu thơ 'Vì chưng hay ghét cũng là hay thương' tóm gọn toàn bộ ý nghĩa và tình cảm của đoạn trích. Thương và ghét là hai tình cảm không thể tách rời, mối quan hệ giữa chúng rất chặt chẽ trong tâm hồn nhà thơ. Càng thương, càng ghét. Thương và ghét luôn đan xen, nối tiếp nhau. Điều này cho thấy rằng, dù ghét nhưng thực chất cũng chỉ là một biểu hiện khác của tình yêu thương.
Soạn bài Lẽ ghét thương, Ngắn 3
Câu 1:
- Những điều ông Quán ghét: Ông ghét việc tầm phào, đời Kiệt, trụ mê dâm, đời U, Lệ đa đoan, đời Ngũ Bá phân vân, đời thúc quý phân băng.
- Những điều ông Quán thương: Ông thương đức thánh nhân, thương thầy Nhan Tử, thương Gia Cát Lượng, thương Đồng Tử, Nguyên Lượng, Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc,... những bậc hiền tài chính nhân quân tử trong xã hội.
- Cơ sở của lẽ ghét thương:
- Nguyên nhân của sự ghét chính là lòng yêu nước thương dân, ông ghét những kẻ đẩy nhân dân vào cảnh lầm than, cực khổ.
- Ông tiếc thương những bậc hiền tài, cũng là sự tiếc thương cho cuộc đời.
⇒ Ông đã nhìn thấy bản thân trong những hình ảnh đó: cũng ước mơ cống hiến cho nhân dân nhưng lại phải chịu cảnh bất hạnh.
Nghiên cứu kỹ nội dung phần Thương vợ để nâng cao kiến thức môn Ngữ Văn lớp 11.
