Khi đọc Câu 1
Câu 1 (trang 67, SGK Ngữ Văn 11, tập một):
Giới thiệu về bài thơ.
Phương pháp giải:
Đọc kỹ đoạn 1 của bài thơ.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ có thể hiểu theo hai cách: “Nỗi nhớ trong đêm thanh tĩnh” và “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh”, và nó thuộc đề tài “nguyệt dạ tư hương” thường gặp trong thơ Đường.
Khi đọc Câu 2
Câu 2 (trang 68, SGK Ngữ Văn 11, tập một):
Nêu tổng quan cấu tứ của bài thơ và hướng phân tích, đánh giá.
Phương pháp giải:
Đọc kỹ đoạn thứ 2 của tác phẩm.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ mô tả một đêm yên bình trên đường đi xa, và bên trong đó là tình yêu sâu đậm với quê hương. Vì vậy, hướng đi của bài thơ có thể là mô tả về đêm trăng êm đềm, qua đó thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình.
Khi đọc Câu 3
Câu 3 (trang 68, SGK Ngữ Văn 11, tập một):
Phân tích, đánh giá từng phần của bài thơ.
Phương pháp giải:
Đọc kỹ đoạn 3 và 4 của bài thơ
Lời giải chi tiết:
- Hai dòng thơ đầu: Ngay từ dòng thơ đầu tiên, ta cảm nhận được tâm trạng trữ tình của nhân vật, đang lo lắng, thức trắng bởi ánh trăng trong đêm khuya. Trong thơ, trăng luôn là người bạn thân thiết của nhà thơ, nó là biểu tượng thường thấy của quê hương, đất nước, quê nhà. Và ở đây, Lý Bạch đã gặp gỡ vầng trăng như thế, nó làm tỉnh táo trong tâm trí tác giả một cảm xúc tiềm thức và ánh trăng chiếu sáng mọi nơi.
- Hai dòng thơ cuối: Nhà thơ thức dậy, nhìn vầng trăng sáng rực nhưng chỉ trong khoảnh khắc đó, ông như nhận ra quê hương của mình, nhớ về quê nhà và tự giác cúi đầu. Tuy nhiên, hành động này chỉ khiến ông nhớ quê hương của mình hơn, nơi ông đã sinh ra và lớn lên, nơi mà những kỷ niệm bất ngờ ùa về khiến một người xa quê trở nên buồn bã, nhớ nhà không dứt.
Khi đọc Câu 4
Câu 4 (trang 68, SGK Ngữ Văn 11, tập một):
Chú ý làm rõ tính khái quát của hình ảnh, chi tiết.
Phương pháp giải:
Đọc kỹ đoạn 4 của bài viết.
- Hình ảnh: vầng trăng, đêm tối tịch mịch
- Chi tiết: ngẩng đầu, cúi đầu, nhìn, nhớ cố hương
Khi đọc Câu 5
Câu 5 (trang 68, SGK Ngữ Văn 11, tập một):
Đánh giá chung.
Phương pháp giải:
Xem kỹ đoạn 7.
Lời giải chi tiết:
Đánh giá nghệ thuật “lấy cái vô tình”, “lấy cái vô thức” chỉ tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong đêm trăng tịch mịch.
Khi đọc Câu 6
Câu 6 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập một):
Kết luận.
Phương pháp giải:
Chú ý dòng cuối cùng của bài.
Lời giải chi tiết:
Kết luận: Đó chính là tính chất tự nhiên, đầy hàm ý của Tĩnh dạ tứ.
Sau khi đọc Câu 1
Câu 1 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập một):
Bài thơ đã được giới thiệu như thế nào?
Phương pháp giải:
Đọc kỹ đoạn 1 của bài viết.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ được giới thiệu ngắn gọn về cách hiểu nhan đề của bài thơ. Đó là có thể hiểu theo 2 nghĩa “Tĩnh dạ tư” (Nỗi nhớ trong đêm thanh tĩnh), “Tĩnh dạ tứ” (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh).
Sau khi đọc Câu 2
Câu 2 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập một):
Xác định trình tự, logic triển khai hệ thống ý trong bài viết.
Phương pháp giải:
Đọc kỹ bài bài viết để trả lời câu hỏi này.
Lời giải chi tiết:
- Trình tự triển khai ý trong bài viết được đưa ra từ khái quát đến cụ thể:
+ Mở đầu bằng giới thiệu về cách hiểu nhan đề của tác phẩm
+ Tiếp đến là lối cấu tứ của bài thơ
+ Phân tích những chi tiết, hình ảnh trong bài thơ
+ Đưa ra đánh giá chung
+ Cuối cùng là kết luận lại
→ Đây là một trình tự hết sức hợp lý, phù hợp với mục đích phân tích bài thơ.
Sau khi hoàn thành Câu 3
Câu 3 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập một):
Cấu tứ và đặc điểm tổng quan của hình ảnh trong bài thơ đã được tác giả đề cập ở đâu trong bài, câu nào?
Phương pháp giải:
Đọc kỹ toàn bộ bài viết
Lời giải chi tiết:
Cấu tứ và đặc điểm tổng quan của hình ảnh trong bài thơ được tác giả nhấn mạnh trong 2 câu thơ cuối cùng “Cử đầu vọng minh nguyệt/ Đê đầu tư cố hương”. Hai dòng thơ này làm rõ tâm trạng của nhân vật trữ tình, phản ánh nỗi nhớ về quê hương sâu sắc của tác giả. Trong không gian yên bình, hình ảnh ánh trăng tỏa sáng như một người bạn thân thiết, đồng thời cũng là biểu tượng của quê hương thanh bình, những kỷ niệm bình yên ở quê nhà. Những hành động vô ý nhưng đầy ý nghĩa như “ngẩng – cúi” diễn ra một cách tự nhiên, nhưng nhân vật trữ tình có vẻ không nhận ra được vì tâm trạng đang bị áp đặt bởi nỗi nhớ quê hương của một người xa quê. Vì vậy, hai dòng thơ cuối cùng đã phản ánh rõ cấu trúc tổ chức của bài thơ, thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình một cách rõ ràng nhất.
Viết
Phân tích về tác phẩm Tràng Giang của Huy Cận về cấu tứ, hình ảnh và giá trị tạo hình.
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học
Lời giải chi tiết:
Con người luôn bị chi phối bởi hoàn cảnh, các nhà thơ trong phong trào Thơ mới cũng vậy, hoàn cảnh đã đưa họ tiếp cận với những vần thơ sâu sắc, chứa chan tình yêu nước sâu đậm. Tiêu biểu trong đó ta phải kể đến đó là nhà thơ Huy Cận với tác phẩm Tràng Giang - một tác phẩm hay, ý nghĩa về tấm lòng của một con người luôn nặng lòng vì nước thể hiện qua cấu tứ, hình ảnh trong bài thơ.
Bài thơ được gợi cảm hứng từ một buổi chiều thu bên bến Chèm, chàng thi sĩ đứng cạnh dòng nước, ngắm nhìn đất trời cảnh vật mà “tức cảnh sinh tình”. Nguồn cảm hứng đó ta có thể thấy rõ qua câu đề từ của bài thơ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Câu đề từ gợi ra một không gian rộng lớn nơi con người chan chứa cảm xúc bâng khuâng khó tả.
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Hình ảnh đầu tiên xuất hiện là hình ảnh con sóng nhấp nhô trùng trùng, điệp điệp. Con sóng tầng tầng, lớp lớp ấy kéo theo là nỗi buồn của nhân vật trữ tình, nhìn sóng nước như nhìn thấy nỗi buồn trong lòng mình. Cùng với đó là hình ảnh con thuyền lênh đênh trên sông gợi liên tưởng về một kiếp người nghèo khổ, nay đây mai đó, không biết đi đâu về đâu. Trong thơ Đường, ta đã từng bắt gặp hình ảnh con thuyền và dòng sông đầy ám ảnh, trĩu nặng cái tình của người đưa tiễn:
Cô phàm viễn cảnh bích không tận
Duy kiến Trường giang thiên tế lưu
(Lí Bạch)
Con thuyền dường như trở lên nhỏ bé lạ thường kết hợp với hình ảnh cành củi bị cuốn theo dòng nước càng tô đậm thêm sự nhỏ bé của sự vật hay chính là một kiếp người nào đó trong xã hội.
Sang đến khổ thơ thứ hai, ta bắt gặp hình ảnh khái quát toàn bộ khung cảnh sông nước thể hiện hiện qua 4 câu thơ:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu
Đến đây, khung cảnh trở lên thật tĩnh lặng, vắng vẻ, gợi lên một nỗi buồn thầm kín, khó tả. Các từ láy “lơ thơ”, “chót vót”, “đìu hiu” gợi lên cảm nhận về một sự xa xăm, sự vắng lặng lạ thường, nhỏ bé của con người so với vũ trụ bao la. Gió hiu hiu thổi trên cồn cát vắng bóng của sự sống con người, sự vật, con người thật nhỏ bé, vô định trước sự rộng lớn của vũ trụ. Và không gian cứ mở rộng, con người lại càng cô đơn, nhỏ bé và buồn tủi trước thiên nhiên rộng lớn. Để rồi, sự cô quạnh, lạnh lẽo ấy khiến tác giả phải thốt ra thành lời khiến người đọc không khỏi buồn lây mà cảm thán:
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Hình ảnh bèo dạt đã nhiều lần xuất hiện trong thơ ca, nhưng ở đây nó lại thấm thía sự chia ly, gợi lên sự nhỏ bé, mong manh của kiếp người giữa dòng đời. Hình ảnh bèo nối hàng gợi cảm nhận về những kiếp người chìm nổi trong xã hội, họ vẫn ở đó và ngày càng khổ đau hơn. “Không một chuyến đò ngang” đã thể hiện sự vắng bóng, thiếu sự gắn kết với con người. Cảnh vật càng trở lên hoang vắng, mênh mông đến tận cùng như nỗi buồn của con người. Trên nền không gian ấy, hình ảnh bãi vàng vẫn hiện lên, tô điểm thêm bức tranh đồng thời cũng tô đậm thêm sự thiếu sức sống, vắng lặng của cảnh vật hoang tàn. Phải chăng bởi lòng người u buồn khiến cho cảnh vật chẳng thể đẹp mà cũng nặng trĩu tâm tư của nhân vật trữ tình?
Để rồi khổ cuối càng bộc lộ rõ tâm tư, tình cảm của tác giả:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dờn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Hình ảnh cánh chim và đám mây tiếp tục tô điểm thêm cho bức tranh thiên nhiên vũ trụ rộng lớn, cô quạnh. Sự hùng vĩ của cảnh sắc của những đám mây lớp lớp nối tiếp nhau cùng cánh chim đang bay về tổ ấm báo hiệu hoàng hôn hôn đang buông xuống. Sự tương phản giữa cánh chim và bầu trời càng làm nổi bật lên sự tồn tại nhỏ bé như kiếp người, cũng nhỏ bé và vô định giữa đất trời rộng lớn. Bởi vậy lòng người chỉ càng thêm tịch mịch và u buồn. Nỗi buồn về kiếp người, về nỗi nhớ quê hương tha thiết của một con người nơi đất khách quê người đang tức cảnh sinh tình, bộc lộ nỗi lòng của mình.
Tóm lại, Tràng Giang là một bài thơ đặc sắc cả về cấu tứ thơ cũng như các hình ảnh được sử dụng. Không chỉ thể hiện được sự tài hoa trong sáng tác thơ của Huy Cận mà nó còn làm nổi bật lên tâm tư, tình cảm trĩu nặng nỗi buồn và niềm mong nhớ về quê hương của tác giả. Cùng với đó, sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và hiện đại đã tạo nên một thi phẩm độc đáo về tình yêu quê hương, đất nước con người ẩn chứa trong nỗi buồn thầm kín của một con người đa sầu, đa cảm như Huy Cận.