Việt Nam sở hữu nguồn lượng đất hiếm lớn thứ hai trên thế giới, chỉ đứng sau Trung Quốc.
Nhóm kim loại đất hiếm là một yếu tố quan trọng trong phát triển khoa học và công nghệ hiện đại. Các nguồn dự trữ đất hiếm ngày càng trở nên quan trọng và có giá trị.
Biểu đồ dưới đây được tổng hợp từ dữ liệu của Hiệp hội Địa chất Hoa Kỳ (USGS), cung cấp thông tin về các quốc gia có lượng nguyên tố đất hiếm (REE) lớn nhất được biết đến.
Đất hiếm là gì?
REE, hay còn gọi là kim loại đất hiếm hoặc oxit đất hiếm, là một nhóm 17 kim loại nặng mềm có màu trắng bạc.
17 nguyên tố đất hiếm bao gồm: lantan (La), xeri (Ce), praseodymium (Pr), neodymium (Nd), promethium (Pm), samarium (Sm), europium (Eu), gadolinium (Gd), terbium (Tb), dysprosi (Dy), holmi (Ho), erbi (Er), thulium (Tm), ytterbium (Yb), lutetium (Lu), scandium (Sc) và yttrium (Y).

Việt Nam nằm ở vị thứ hai trên thế giới về trữ lượng đất hiếm. Ảnh: Visual Capitalist
Thuật ngữ 'đất hiếm' thường bị hiểu nhầm vì thực tế các kim loại đất hiếm có nhiều trong vỏ Trái đất. Tuy nhiên, chúng hiếm khi được tìm thấy dưới dạng lớn mà thường đi kèm với các loại khoáng chất khác.
Đất hiếm được sử dụng vào việc gì?
Hầu hết các nguyên tố đất hiếm được sử dụng làm chất xúc tác và nam châm trong công nghệ truyền thống. Các ứng dụng quan trọng khác của nguyên tố đất hiếm bao gồm trong sản xuất hợp kim kim loại đặc biệt, thủy tinh và thiết bị điện tử hiệu suất cao.
Hợp kim của neodymium (Nd) và samarium (Sm) có thể được sử dụng để sản xuất nam châm mạnh có thể chịu nhiệt độ cao, điều này làm cho chúng trở nên lý tưởng cho nhiều ứng dụng điện tử và quốc phòng quan trọng.
Dự trữ toàn cầu về Đất hiếm
Trung Quốc đứng đầu trong danh sách về sản lượng mỏ và dự trữ của các nguyên tố đất hiếm, với dự trữ lên đến 44 triệu tấn và sản lượng khai thác hàng năm đạt 140.000 tấn.
Mặc dù Việt Nam và Brazil đều có dự trữ kim loại đất hiếm đứng thứ hai và thứ ba trên thế giới với dự trữ lần lượt là 22 triệu tấn và 21 triệu tấn, nhưng sản lượng khai thác ở hai quốc gia này chỉ khoảng 1.000 tấn mỗi năm.
Trong khi đó, Mỹ có dự trữ đất hiếm là 1,5 triệu tấn nhưng vẫn phải nhập khẩu đất hiếm đã được tinh chế từ Trung Quốc.
Tại sao Việt Nam không khai thác nhiều đất hiếm?
TS Nguyễn Văn Ban, nguyên Trưởng ban Bauxite - Nhôm của Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam (cũ), nhận định rằng Việt Nam có thể xuất khẩu đất hiếm sang Mỹ nhưng cần nhận biết rõ nhược điểm của dự trữ đất hiếm tại Việt Nam.
Trong khi các nguyên tố đất hiếm nhóm nặng được sử dụng nhiều trong các ngành công nghệ cao, thì Việt Nam lại sở hữu chủ yếu đất hiếm nhóm nhẹ.
'Tuy đất hiếm nhóm nhẹ vẫn có ứng dụng và nhu cầu nhất định, ví dụ như làm loa, nhưng tổng thể, đất hiếm nhóm nhẹ được sử dụng ít trong các ứng dụng khác', TS Nguyễn Văn Ban phân tích.
Nhật Bản đã thể hiện quan tâm đến dự trữ đất hiếm của Việt Nam từ lâu, tuy nhiên vì nhiều lý do mà họ chưa đẩy mạnh việc khai thác ở đất nước chúng tôi. Ngoài ra, việc khai thác và tinh chế đất hiếm để tách riêng từng nguyên tố cũng không phải là điều dễ dàng.
'Việc phân tách từng kim loại trong đất hiếm thành từng nguyên tố đều là một quá trình vô cùng phức tạp, đòi hỏi độ chính xác cao. Nếu không thực hiện cẩn thận, các kim loại hiếm trong đất có thể bị bay hơi theo dạng ôxi, vì vậy chỉ có các quốc gia tiên tiến mới có thể phân tách các nguyên tố hiếm này từ đất hiếm', TS Nguyễn Văn Ban chia sẻ.

Khai thác và tinh chế đất hiếm không phải là công việc dễ dàng.
Với công nghệ hiện đại, Việt Nam chỉ có thể xuất khẩu nguyên liệu thô mà chưa thể phân tách nguyên tố từ đất hiếm hoặc chế biến để sản xuất ra đất hiếm tinh chế. Ngoài ra, TS Nguyễn Văn Ban cũng nhấn mạnh rằng việc khai thác đất hiếm cũng mang theo nguy cơ gây hại cho môi trường do trong đất hiếm thường chứa các nguyên tố phóng xạ, tiềm ẩn nguy hiểm cho sức khỏe con người và môi trường xung quanh.
Bàn luận về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Xuân Khiển, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, để xuất khẩu đất hiếm, các doanh nghiệp khai thác phải trải qua quá trình làm giàu khoáng chất trong các quặng đất hiếm để đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Đồng thời, để xuất khẩu cần phải tuân thủ nhu cầu của thị trường.
'Ví dụ, việc xuất khẩu đất hiếm để sản xuất linh kiện điện tử hoặc làm nguyên liệu cho các ngành sản xuất khác, mỗi nhu cầu xuất khẩu lại có một tiêu chuẩn riêng, yêu cầu rất cao về độ tinh khiết của các nguyên tố đất hiếm, không phải chúng đồng nhất', PGS.TS Nguyễn Xuân Khiển nói thêm.
PGS.TS Nguyễn Xuân Khiển cũng đồng tình với TS Nguyễn Văn Ban rằng để khai thác và xuất khẩu đất hiếm, việc quan trọng nhất là phải đảm bảo được thị trường tiêu thụ, tức là phải xác định được nhu cầu của các quốc gia.
Theo VnExpress, trong năm ngoái, PGS Phan Quang Văn cùng đồng nghiệp tại Đại học Mỏ - Địa chất đã hợp tác với một số viện nghiên cứu trong nước và nhóm chuyên gia Đức để nghiên cứu về các đặc tính của khoáng vật đất hiếm tại khu vực Nậm Xe (Lai Châu) và thực hiện một số nghiên cứu khác.
Quặng ở khu vực này chứa đất hiếm nhóm nhẹ, chủ yếu là các nguyên tố Lantan (La) và Xeri (Ce), chiếm khoảng 97% tổng oxit đất hiếm tại khu Bắc Nậm Xe và 75,9% tổng oxit đất hiếm tại khu Nam Nậm Xe.
https://cafef.vn/viet-nam-co-kho-bau-lon-thu-2-the-gioi-tai-sao-khong-khai-thac-du-gia-ban-rat-cao-2021112513515653.chn