
Là một nhà văn và nhà thơ, Nabokov đã để lại nhiều tác phẩm được coi là kinh điển của thế giới, bao gồm tiểu thuyết Lolita, Lửa nhạt, tập thơ Hai con đường, hồi kí Hãy nói đi, kí ức… Các tác phẩm của ông không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến văn học và nghệ thuật, cũng như đối với đông đảo độc giả ở Nga, Mĩ và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Ở Việt Nam, đến năm 2020, người đọc đã có thể tiếp cận hầu hết các tác phẩm của Nabokov như Mashenka, Tiếng cười trong bóng tối, Phòng thủ Luzhin, Pnin, Những thứ trong suốt, Lolita và các tập truyện ngắn Mĩ nhân Nga, Mây, hồ, tháp, Thanh âm.
Trước khi rời khỏi Nga vào năm 1919, Nabokov đã viết văn và làm thơ. Tuy tập thơ Hai con đường của ông đã được đánh giá cao, nhưng khi ông chuyển đến Đức sinh sống, đối tượng độc giả của ông đã bị hạn chế: chỉ còn là những người Nga nhập cư, thay vì độc giả Nga đông đảo như trước đây. Ông đã nhận ra điều này rõ ràng và thậm chí đã nói: “Viết ở nước ngoài - đó là sự sáng tạo trong hư không. Gần như không có người xuất bản, gần như không có độc giả. Sự yên lặng vây lấy nhà văn lưu vong đó.”
Tuy nhiên, khi ở Đức (đặc biệt từ năm 1926 - 1937), Nabokov vẫn tiếp tục viết bằng tiếng Nga, chỉ dành cho độc giả người Nga ít ỏi. Các tác phẩm của ông vẫn được đánh giá cao về giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Trong giai đoạn này, ông đã viết 8 tiểu thuyết tiếng Nga, trong đó tác phẩm đầu tay Mashenka được đánh giá cao. Nội dung của tác phẩm kể về tâm trạng của một người đàn ông Nga sống lưu vong ở Berlin, luôn nhớ về quê hương và người yêu cũ. Việc viết bằng tiếng Nga đã giúp ông thể hiện tình cảm của mình đối với đất nước Nga. Dù việc viết bằng ngôn ngữ mẹ đẻ ít độc giả hơn nhưng ông vẫn trung thành với tiếng Nga, với tình yêu với quê hương thông qua ngôn ngữ ấy. Với Nabokov, “ngôn ngữ của nhà văn - ngôn ngữ mẹ đẻ của anh ta, không chỉ là công cụ biểu hiện, mà còn là hình thức của tư duy, của cảm xúc”.
Nước Nga trong tác phẩm của Nabokov không giống với các nhà văn khác như Bunin, Kuprin, Solzhenitsyn… Trong tác phẩm của ông không có các thành phố, làng mạc được gọi tên Nga, không có những nhân vật đặc trưng kiểu mugic Nga hay phụ nữ Nga nông thôn hoặc quý tộc, cũng không thấy miêu tả những sự kiện mang tính chất trọng đại hoặc những biến cố lịch sử chấn động cả đất nước. Nước Nga trong tác phẩm của ông hiện ra trong bóng dáng của một thời thơ ấu hồn nhiên đã mất, đó là thời kỳ mà “mỗi lời khẩn cầu, mỗi một câu hỏi được ném lên trời thì lập tức sẽ nhận được câu trả lời đầy ngạc nhiên và quý báu”. Thế nên, trong tác phẩm của Nabokov chúng ta rất hay bắt gặp nỗi đau, sự trăn trở tìm lại “thiên đường thơ ấu bị đánh mất”.
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, Nabokov buộc phải sáng tác bằng tiếng Anh thay cho tiếng Nga mẹ đẻ, và ông đã rất đau khổ vì không thể trở lại nước Nga như ước mong. Khi nữ thi sĩ Bella Akhmadulina đến thăm Nabokov (lúc này ông ở Thụy Sĩ), ông đã tâm sự: “Tôi tiếc là đã không ở lại nước Nga.” Lúc đấy vợ ông có phân trần là do hoàn cảnh, nhưng ông đã nói: “Ai biết được, có lẽ nếu ở lại tôi đã trở thành một tác giả hoàn toàn khác, có thể còn hay hơn nhiều” (theo B.Akhmadulina).
Nhà nghiên cứu Hoàng Phong Tuấn cho rằng, việc chuyển sang sáng tác bằng tiếng Anh giúp Nabokov tỏa sáng và đưa văn chương của mình đến với thế giới và đặc biệt đến với người dân Nga quê hương ông nhanh hơn, sớm hơn. Nếu như Nabokov không chuyển sang viết bằng tiếng Anh, có thể ông sẽ không được biết đến như hiện nay, và tác phẩm của ông cũng sẽ chìm vào quên lãng. Hãy quay trở lại với thời kì sáng tác bằng tiếng Nga của tác giả. Tuy những tác phẩm văn học viết bằng tiếng Nga của ông đều được đánh giá cao, nhưng đấy là sau này, khi ông đã nổi danh với Lolita và các tác phẩm văn học tiếng Anh khác, các nhà nghiên cứu mới tìm về lại kho tàng sáng tác của ông.
Sự nghiệp sáng tác của Nabokov chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn tiểu thuyết Nga và giai đoạn tiểu thuyết Anh. Khi ở châu Âu (cụ thể là ở Đức) - nơi có nhiều người Nga, nhà văn chỉ viết bằng tiếng Nga. Nhưng khi sang Mĩ, nơi hầu như không có người đọc tiếng Nga, nhà văn phải viết bằng tiếng Anh, một ngôn ngữ mà ông coi là 'ngôn ngữ hạng hai' (theo lời Nabokov). Tuy nhiên, vì tình yêu với nước mẹ Nga, ngôn ngữ Nga, và văn học cổ điển Nga, những tác phẩm quan trọng nhất của ông như Lolita và Hãy nói đi, kí ức, ông tự dịch sang tiếng Nga. Có thể nói, việc Nabokov chuyển ngữ sang tiếng mẹ đẻ những tác phẩm quan trọng nhất của mình cho thấy ý thức cao độ trong việc bảo vệ bản quyền của nhà văn. Hơn nữa, việc một nhà văn tự dịch tác phẩm của mình sang ngôn ngữ khác sẽ đảm bảo sự chính xác cũng như chất văn chương nghệ thuật của tác phẩm đó. Nabokov khi tự dịch tác phẩm của mình từ tiếng Anh sang tiếng Nga đã làm công việc sáng tạo lần thứ hai, không chỉ chuyển ngữ đơn thuần mà còn chủ động viết lại những chi tiết của tác phẩm sao cho phù hợp với đặc điểm tiếp nhận, khả năng đón đọc, truyền thống văn hóa của dân tộc mình. Với việc xuất bản Lolita tiếng Nga bằng bản dịch của mình, Nabokov theo đuổi mục tiêu đơn giản: cuốn sách tiếng Anh tốt nhất của ông cũng phải được dịch chính xác sang ngôn ngữ mẹ đẻ của ông - tiếng Nga.
Nabokov rời nước Nga khi mới 20 tuổi và từ đó cho đến khi qua đời, nhà văn không một lần trở lại quê hương. Sau thời gian đầu sáng tác bằng tiếng Nga, ông chuyển sang viết bằng tiếng Anh. Nhiều người từ đó đã không còn xem ông là nhà văn Nga nữa, bởi Nabokov khác hoàn toàn những nhà văn Nga lưu vong khác: ông kiên trì trong thành công văn chương tiếng Nga và những đề tài về nước Nga xưa, Nga thời điểm họ rời tổ quốc. Nabokov tìm đến thế giới mới, viết về cuộc sống hiện tại của thế giới đó. Ông không sống thực sự với ngôn ngữ và cuộc sống Nga đương thời, nhưng ông sáng tạo văn chương cho thế kỉ mà ông đang sống, trong đó có nước Nga thân yêu. Dù vậy, khi đọc văn của Nabokov, trong những tác phẩm được coi là “Tây nhất”, vẫn không thể phủ nhận chất Nga: nữ tính vĩnh hằng, người “điên” kể chuyện, thiên đường trẻ thơ bị đánh cắp… Tất cả đều là điểm quan trọng khiến cho tác phẩm của Nabokov vẫn là những tác phẩm rất Nga, đưa ông trở về với đất nước và độc giả của mình.
Theo Đ.T.H/ Văn Nghệ Quân Đội
