| Đông y |
|---|
|
Các cơ sở học thuyết lý luận[hiện] |
|
Văn bản[hiện] |
|
Các danh y[hiện] |
|
Thực hành[hiện] |
|
Các phương pháp chẩn đoán[hiện] |
|
Các phương pháp bào chế[hiện] |
|
Các dạng thuốc[hiện] |
|
Các thành phần trong đơn thuốc[hiện] |
|
Các danh sách[hiện] |
|
Các khái niệm[hiện] |
| Chủ đề Y học cổ truyền |
Y học cổ truyền Trung Quốc hay còn gọi là Đông y, là một nhánh của y học cổ truyền đã được phát triển qua hơn 00 năm tại Trung Quốc, bao gồm các phương pháp như thảo dược, châm cứu, cạo gió, xoa bóp, nắn xương, khí công và chế độ ăn kiêng. Gần đây, Đông y cũng bị ảnh hưởng bởi y học phương Tây hiện đại. Đông y được áp dụng rộng rãi trong văn hóa Đông Á và ngày càng phổ biến toàn cầu. Một trong những nguyên lý cơ bản của Đông y là khái niệm về năng lượng sống của cơ thể (khí), chưa được chứng minh khoa học, được cho là lưu thông qua các kinh lạc, có liên kết với các cơ quan và chức năng cơ thể. Các khái niệm về cơ thể và bệnh tật trong Đông y phản ánh nguồn gốc cổ xưa và nhấn mạnh các quá trình động hơn là cấu trúc vật chất, tương tự như lý thuyết humoral của châu Âu.
Khoa học hiện đại chưa chứng minh các khái niệm truyền thống Trung Quốc như khí công, kinh lạc và huyệt đạo. Đông y không dựa trên kiến thức khoa học hiện tại và có sự khác biệt giữa các bác sĩ về phương pháp chẩn đoán và điều trị. Hiệu quả của thuốc thảo dược Trung Quốc vẫn ít được nghiên cứu và chưa được hỗ trợ mạnh mẽ. Có lo ngại về các loại thực vật độc hại, các bộ phận động vật và dược phẩm từ Trung Quốc. Lo ngại cũng bao gồm việc buôn bán và vận chuyển trái phép các loài có nguy cơ tuyệt chủng như tê giác và hổ, cũng như sự đối xử với các động vật nuôi nhốt, đặc biệt là gấu. Một đánh giá về hiệu quả chi phí của Đông y cho thấy bằng chứng còn yếu và kết quả không rõ ràng. Nghiên cứu dược phẩm đã thử tạo ra thuốc mới từ các phương thuốc truyền thống, nhưng thành công rất hạn chế. Một bài xã luận của tạp chí Nature đã chỉ trích Đông y là 'chứa nhiều kiến thức giả khoa học' và cho rằng lý do chính mà Đông y không mang lại nhiều phương pháp chữa trị là vì nhiều phương pháp của nó không có cơ chế hoạt động rõ ràng. Tuy nhiên, các nhà ủng hộ Đông y cho rằng các nghiên cứu phương Tây chưa hiểu hết các khía cạnh của nghệ thuật Đông y, chẳng hạn như các tương tác chưa biết giữa các thành phần và các hệ thống sinh học phức tạp.
Các lý thuyết của y học Trung Quốc xuất phát từ các sách cổ như Hoàng đế nội kinh (黄帝内经) và Thương hàn luận (伤寒论), cùng với các quan niệm vũ trụ học như âm dương và ngũ hành. Kể từ những năm 1950, các quan niệm này đã được chuẩn hóa tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm nỗ lực tích hợp với các quan niệm hiện đại về giải phẫu và bệnh lý. Chính phủ Trung Quốc đã thúc đẩy một hình thức Đông y được hệ thống hóa từ những năm 1950.
Trong Đông y, sức khỏe được hiểu là sự hòa hợp giữa cơ thể với môi trường xung quanh, và bệnh tật là dấu hiệu của sự mất cân bằng trong sự hòa hợp này. Chẩn đoán Đông y tập trung vào việc phát hiện các triệu chứng của sự mất cân bằng tiềm ẩn qua việc đo mạch, kiểm tra lưỡi, da và mắt, cũng như quan sát thói quen ăn uống và giấc ngủ của bệnh nhân.
Triết lý y học


Lý thuyết Đông y dựa trên triết lý cổ đại của Trung Quốc, bao gồm Âm Dương và Ngũ Hành. Sức khỏe tốt được duy trì bằng cách cân bằng các yếu tố Âm Dương và Ngũ Hành, trong khi việc điều trị tập trung vào việc khôi phục sự cân bằng đó. Ngược lại, Tây y dựa vào các kiến thức về giải phẫu, sinh lý, vi sinh và những thành tựu của khoa học hiện đại.
Ngoài Âm Dương và Ngũ Hành, lý thuyết Đông y còn bao gồm: học thuyết Thiên Nhân hợp nhất, học thuyết kinh lạc, bát cương, và học thuyết tạng tượng. Dù tạng tượng trong Đông y có nhiều điểm tương đồng với giải phẫu và sinh lý học Tây y, các thuật ngữ Hán-Việt như Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận không hoàn toàn tương ứng với các cơ quan trong giải phẫu học Tây y như tim, gan, lách, phổi, thận. Đông y có một hệ thống lý luận riêng, trong đó việc chia tách cơ thể thành các bộ phận cụ thể chỉ là cách tiếp cận tương đối, vì cơ thể được xem là một thể thống nhất.
Khác với văn hóa phương Tây, văn hóa phương Đông coi trọng việc duy trì 'cân bằng' và 'hòa hợp'. Khái niệm 'Trung dung' – sự cân bằng giữa hai thái cực, được coi là tiêu chuẩn tối cao trong triết lý tu thân của bậc quân tử. Trong mối quan hệ với thiên nhiên, phương Đông hướng tới sự hòa hợp thay vì chinh phục, điều này được gọi là 'thiên nhân hợp nhất'. Trong quan hệ xã hội, từ xưa, triết lý 'dĩ hòa vi quý' đã trở thành phương châm cơ bản. Những giá trị văn hóa này đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm và phương pháp chữa bệnh của Đông y. Đông y cho rằng bệnh tật là do 'âm dương mất cân bằng' gây ra. Để điều trị, Đông y áp dụng 8 biện pháp cơ bản: 'hãn' (gây ra mồ hôi), 'thổ' (gây nôn), 'hạ' (thông đại tiện), 'hòa' (hòa giải), 'ôn' (làm ấm), 'thanh' (làm mát), 'tiêu' (tiêu thức ăn tích trệ), 'bổ' (bồi bổ) nhằm khôi phục cân bằng và hóa giải mâu thuẫn giữa 'chính khí' và 'tà khí', mà không sử dụng các phương pháp đối kháng như trong Tây y.
Để đạt hiệu quả chữa bệnh tối ưu, Đông y tập trung vào việc 'trị vị bệnh' – tức là điều trị từ khi bệnh chưa xuất hiện. Nội kinh, một tác phẩm kinh điển của Đông y, đã nhấn mạnh rằng các thầy thuốc vĩ đại không chờ đến khi bệnh phát sinh mới chữa trị mà phải điều trị từ giai đoạn sớm. Việc trị bệnh từ khi chưa có triệu chứng được so sánh với việc đào giếng khi chưa khát nước hay chế tạo vũ khí khi chưa có chiến tranh. Quan điểm 'trị vị bệnh' cũng thể hiện trong tư tưởng 'tướng giỏi không cần đánh mà thắng' từ Tôn Tử binh pháp. Trong Đông y, dưỡng sinh được xem là phương pháp tối ưu, trong khi trị liệu chỉ là biện pháp phụ trợ. Việc 'trị vị bệnh' và 'phòng bệnh hơn chữa bệnh' là chiến lược y tế sáng suốt và có giá trị thực tiễn lớn trong bối cảnh hiện đại.
Đông y tập trung vào con người, không chỉ là 'bệnh' mà là 'con người' trong mối quan hệ với môi trường và vũ trụ, gọi là 'Thiên nhân hợp nhất'. Con người được xem là một chỉnh thể thống nhất, nơi tinh thần và thể xác kết hợp chặt chẽ, được gọi là 'Hình thần hợp nhất'.
Phương châm chủ yếu của Đông y trong chữa bệnh là 'lưu nhân trị bệnh' – nghĩa là ưu tiên bảo vệ sự sống của con người trước, rồi mới tập trung vào việc kiểm soát và tiêu trừ bệnh. Mục tiêu của Đông y là khôi phục trạng thái 'cân bằng toàn diện'. Vì thế, Đông y chú trọng vào khả năng tự phục hồi và tái tạo của cơ thể, lấy việc kích thích tiềm năng của cơ thể làm phương pháp chính. Bệnh nhân được coi là trung tâm, với quan điểm 'nhân vi bản bệnh vi tiêu' – con người là gốc rễ, bệnh chỉ là triệu chứng. Đông y xem việc 'trị vị bệnh' và 'phòng bệnh hơn chữa bệnh' là chiến lược y tế hợp lý và đặc trưng của mình từ xưa đến nay. Trong bối cảnh bệnh tật ngày càng chuyển hướng từ các bệnh nhiễm trùng sang các vấn đề tâm lý, nội tiết, chuyển hóa, phương pháp này vẫn có giá trị thực tiễn và khoa học quan trọng.
Trong Đông y, việc dùng thuốc dựa theo nguyên tắc 'Biện chứng luận trị' – tức là điều trị dựa trên biểu hiện cụ thể của bệnh nhân. Trên thực tế, cùng một loại bệnh có thể được điều trị bằng hàng trăm phương thuốc khác nhau tùy vào tình trạng cụ thể của từng người bệnh. Chính vì thế, mỗi phương thuốc được thiết kế phù hợp với tình trạng riêng biệt của bệnh nhân, như cách các thầy thuốc cổ truyền thường nói 'phương giả phỏng dã'.
Chẩn đoán bệnh

Đông y sử dụng bốn phương pháp chẩn đoán chính: vọng chẩn (quan sát bệnh nhân và môi trường xung quanh), văn chẩn (lắng nghe âm thanh từ cơ thể và tâm trạng bệnh nhân), vấn chẩn (hỏi bệnh nhân và người nhà về triệu chứng và tình trạng), thiết chẩn (khám bằng tay và dụng cụ) để xác định tình trạng bệnh lý.
Điều trị
Điều trị trong Đông y bao gồm châm cứu, các loại thuốc uống hoặc bôi ngoài da, và phương pháp xoa bóp.
Châm cứu dựa vào hệ thống kinh mạch với hàng trăm huyệt trên cơ thể. Các huyệt và kinh mạch liên quan đến các tạng, phủ trong cơ thể; để điều trị rối loạn ở tạng phủ nào, các huyệt tương ứng và một số huyệt hỗ trợ sẽ được sử dụng. Hệ thống huyệt và kinh mạch không thể được mô tả bằng các phương pháp giải phẫu, sinh lý của Tây y, mặc dù ngày nay, châm cứu còn được dùng để gây tê trong một số phẫu thuật (kết hợp Đông-Tây y).
Thuốc Bắc là các vị thuốc từ Trung Quốc được đưa vào và phát triển bởi các thầy thuốc Việt Nam. Thuốc Nam là những vị thuốc do các thầy thuốc khám phá và sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam. Các thầy thuốc nổi tiếng như Lê Hữu Trác (với bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh - tài liệu cơ bản của Đông y Việt Nam) và Tuệ Tĩnh (với câu nói nổi tiếng 'Nam dược trị Nam nhân' - thuốc Nam chữa bệnh cho người Nam).
Lưu ý: Phương pháp cạo gió thường được sử dụng trong dân gian nhưng chưa được ngành Đông y chính thức công nhận, và phương pháp chích lể vẫn còn nhiều tranh cãi.
Chú giải
- ^ Singh & Ernst (2008) nhận xét rằng, 'Các nhà khoa học vẫn chưa thể tìm ra bằng chứng nào để chứng minh sự tồn tại của kinh mạch hay Ch'i', 'Các nguyên lý truyền thống của châm cứu có nhiều điểm sai sót sâu sắc, vì không có bằng chứng nào chứng minh sự tồn tại của Ch'i hay các kinh mạch' và 'Các điểm châm cứu và kinh mạch không phải là thực tế, mà chỉ là sản phẩm của triết lý cổ đại Trung Quốc'.
Tham khảo thêm
- Các loại thuốc và vị thuốc Việt Nam (GS Đỗ Tất Lợi)
- Đông dược - Điều trị và phòng ngừa bệnh Tâm - Tỳ - Phế - Thận - Can (BS CKII Đỗ Hữu Định)
- Từ Ngoại cảm đến Nội thương và Kinh nghiệm điều trị bằng Đông y Đông dược (BS CKII Đỗ Hữu Định)
- Dược học cổ truyền toàn tập (PGS.TS.BS Trần Văn Kỳ)
