
Dàn ý
I. Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả Bàng Việt và tác phẩm Bếp lửa.
- Mô tả tình cảm thiêng liêng và xúc động giữa bà cháu.
II. Thân bài:
1. Sự gợi nhớ bà và quê hương qua hình ảnh bếp lửa
- Kí ức về bà, về tuổi thơ được hồi sinh từ hình ảnh quen thuộc của bếp lửa:
+ Hình ảnh của bà hiền hậu và bếp lửa làm tan chảy trái tim khi nhìn thấy nó
+ Bếp lửa làm cho những kỷ niệm về bà hiện lên rõ ràng, đầy ấm áp
- Bếp lửa đánh thức những kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ bên bà:
+ Tuổi thơ của đứa cháu đầy cảm xúc và tình thương nhờ có bà bên cạnh
+ Bên cạnh bếp lửa, hình ảnh của bà và đứa cháu hiện lên, gắn bó với nhau qua nhiều năm
- Bà luôn tỏ ra quan tâm và chăm sóc đối với đứa cháu:
+ Bà là người ủng hộ và chăm sóc đứa cháu, đem lại sự ấm áp và niềm tin vào cuộc sống của họ
+ Trong thời kỳ khó khăn, bà vẫn giữ vững tinh thần và là nguồn động viên cho con cháu
2. Suy tưởng về cuộc đời bà và hình ảnh bếp lửa
- Từ những kỷ niệm về bà, đứa cháu suy tư về cuộc đời của bà:
+ Hình ảnh của bà liên kết với hình ảnh ấm áp của bếp lửa
+ Bên trong bà luôn tồn tại một “ngọn lửa” sáng lên, là biểu tượng cho niềm tin, ý chí và nghị lực sống
+ Ngọn lửa ấy truyền cảm hứng, tình yêu và ý chí sống cho đứa cháu
- Hình ảnh của bà, người phụ nữ khôn ngoan và chân thành:
+ Dù cuộc đời không may mắn nhưng bà vẫn luôn lạc quan và dành tình yêu thương cho con cháu
+ Động từ “ủng hộ” được nhấn mạnh: bà là người truyền cảm hứng và giáo dục cho con cháu những giá trị sống tốt đẹp. Bà đã truyền niềm tin và lòng nhân ái cho đời sống của mỗi người. Bà đã lan tỏa ngọn lửa tình người, làm cho trái tim đứa cháu tràn đầy tình yêu và sự chia sẻ
- Bài thơ kết thúc bằng lời tự sự của người cháu khi trưởng thành, rời xa quê hương.
3. Kết bài:
- Khẳng định những phẩm chất quý giá của bà và mối quan hệ bà cháu thiêng liêng, đẹp đẽ
Bài mẫu 1
Nhớ về tuổi thơ của mình, nhà thơ xứ Đaghoxlan Razun Gamzatop đã nhớ đến người mẹ thân yêu với những việc làm trở lại trong mọi ngày vào sáng sớm, ban trưa và buổi tối, trong cả bốn mùa xuân - hạ - thu - đông. Đó là: đi lấy nước, đưa nôi và nhóm lửa. Nhóm lửa, đi lấy nước, đưa nôi. Bà đã làm việc ấy như nhen nhóm, gìn giữ và nâng niu những gì quý giá nhất của đời mình. Đối với Bằng Việt, trong nỗi nhớ của nhà thơ, bà bao giờ cũng hiện lên cùng bếp lửa. Bởi mỗi ngày của tuổi thơ lận đận đều bắt đầu từ ngọn lửa bà nhen. Bên bếp lửa ấy, bà đã bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học... Sự sống của cháu đã được nhen lên và giữ gìn ngọn lửa ấy. Thì ra thế, ở đất nước nào ngọn lửa cũng là cội nguồn của sự sống, bếp lửa nào cũng nhọc nhằn, tần tảo, bếp lửa nào cùng nồng đượm, ấp iu.
“Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lứa!”
Đó là lời thốt lên từ niềm trân trọng, biết ơn, cũng là lời thốt lên khi chợt nhận ra trong một vật đơn sơ lại ẩn náu bao điều kì diệu.
“Bếp lửa” là lời tâm tình của đứa cháu hiếu thảo đang ở nơi xa gửi về người bà yêu quý ở quê nhà. Lời tâm tình được dệt bằng biết bao kỉ niệm tuổi thơ, mỗi kỉ niệm được bao bọc trong một nỗi nhớ thương vừa trào dâng vừa sâu lắng. Cả bài thơ là một dòng tâm trạng, một dòng hồi ức. Mặc dù tác giả đã có ý sắp xếp theo một trật tự thời gian, nhưng toàn bài thơ vẫn cứ là một dòng chảy xáo động. Những thương nhớ cứ xô đẩy trật tự sắp đặt, cảm xúc cứ lấy quyền dẫn dắt ý tứ. Cho nên các khổ, các đoạn thơ dài ngắn không đều. Bài thơ gồm hai giọng - giọng kể (tự sự) nắm vai trò tổ chức chung đối với toàn bài, và giọng cảm thương (trữ tình) thấm đượm vào mỗi ki niệm, mỗi đoạn thơ. Nhưng đọc toàn bài, thấy giọng cảm thương, nhớ nhung da diết cứ muốn trào dâng, lấn át tất cả. Mạch tự sự mờ đi, lẩn mình vào mạch cảm xúc.
Trước hết hãy nói đến mạch truyện, mạch kể. Kể bao giờ cũng nhằm tái hiện sự việc. Các sự việc được kể tiếp nối thành chuỗi, tạo thành mạch truyện nào đó trong bài thơ. Bằng Việt kể không nhiều, nhưng khá rành rọt. Nhớ từng thời điểm, rành rõ từng quãng thời gian, từng cảnh ngộ gia đình trong những biến động chung của đất nước: Lên bốn tuổi, tám năm ròng, năm giặc đốt làng, mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ, rồi thì giờ thì cháu đã đi xa... Lần theo những mốc thời gian ấy, các sự kiện được kể cứ tiếp nối tạo thành một cốt truyện cho cuộc chuyện trò trong tâm tưởng với bà... Nhưng những sự việc sống trong nỗi nhớ bao giờ cũng được bao bọc bởi tâm tình. Huống chi đây lại là những sự việc thuộc về quãng đời ngọn nguồn của đời người.
Vì thế mỗi một kỉ niệm thức dậy là biết bao tâm tình sống dậy. Cứ thế theo với mạch sự việc, mạch tâm tình cũng thể hiện mà dâng trào. Thiếu một tâm tình sâu nặng, thì các sự việc thời thơ ấu gian khổ có được tái hiện kĩ đến mấy, cũng khó mà thành thơ.
Ngần ấy sự việc suốt mấy chục năm đó chỉ xoay quanh hình tượng bếp lửa của bà. Lửa là ánh sáng, lửa là hơi ấm. Bếp lửa lặng thầm nuôi dưỡng mọi gia đình, nuôi dưỡng cả sự sống này. Nép mình trong góc nhà, xó bếp, có gì mộc mạc khiêm nhường hơn bếp lửa? Nhưng có gì cao quý thiêng liêng hơn? Suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, bếp lửa cứ lụi cụi, hi sinh, tần tảo. Cho nên, nhớ về bếp lửa là nhớ về bà. Đó chính là sự gắn bó tự nhiên kì lạ giữa hai hình ảnh thân thương. Bài thơ mở đầu bằng một khổ thơ ba câu:
"Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Ngọn lửa “chờn vờn sương sớm” là ngọn lửa thực trong lòng bếp bập bùng nhen lên mỗi sớm mai. Nhưng ngọn lửa “ấp iu nồng đượm” đã là ngọn lửa của tình bà chăm sóc cưu mang. Theo trình tự thơ, ngọn lửa cứ chập chờn, bập bùng, hình tượng thơ cứ tò dần, tỏ dần. Bên bếp lửa là dáng hình bà qua nắng mưa, năm tháng.
Kể từ đó, hình ảnh bếp lửa cứ cháy trong kỉ niệm của tình bà cháu. Qua những năm tháng đói khổ. Qua những năm tháng chiến tranh. Cháu bắt đầu nhớ mùi khói từ khi lên bốn. Thì cũng là năm “đói kém” (1945). “Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy” bố bươn chải đưa gia đình qua khỏi thì đói kém mà cứ chìm đi trong kí ức. Trong kí ức chỉ còn lưu lại những gì khốn khổ thương tâm: “đói mòn, đói mỏi, khô rạc ngựa gầy, khói hun nhèm mắt cháu”... Bởi thế mùi khói từ những năm đầu đời qua mấy chục năm ròng, vẫn cứ nguyên trong ki ức, chẳng thể tiêu tan:
“Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Mùi khói của quá khứ làm cay sống mũi hiện tại? Hay là nhớ thương từ hiện tại đã làm sống dậy ngọn khói từng hun nhèm mắt cháu mấy chục năm xưa? Trong khoảng khắc ấy của hồi ức, hoài niệm đã xóa đi cái khoảng cách mấy chục năm trời.
Trong những năm tháng ấy, bên cạnh bà cháu, bên cạnh bếp lửa còn có một nhân vật nữa, giờ đây nhớ lại cháu cũng chẳng bao giờ quên: ấy là chim tu hú - “Tu hú kêu trên những cánh đồng xa”. Tiếng chim gợi lên cái không gian mênh mông buồn vắng. Tiếng tu hú nhắc cảnh mùa màng sao trớ trêu trong những ngày đói kém. Tiếng chim tu hú lạc lõng chơ vơ côi út như khát khao được che chở, ấp iu. Đứa cháu được sống trong sự chăm sóc ấm áp của tình bà đã chạnh lòng thương con tu hú bé bỏng, thiệt thòi
“Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”
Thương con chim tu hú bất hạnh bao nhiêu là biết ơn những ngày hạnh phúc được bà đùm bọc, chi chút bấy nhiêu.
Nếu chim tu hú đáng thương là cảnh ngộ tương phản với đứa cháu được yêu thương, thì bếp lửa ân cần, ấm cúng, nhẫn nại của bà tương phản với ngọn lửa thiêu hủy dã man của bọn giặc. Một ngọn lửa thù địch với sự sống: “Năm giặc đốt làng cháy tàn, cháy rụi”, một ngọn lửa nhen lên sự sống:
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.
Bà đã chịu đựng tất cả nhọc nhằn, mất mát, hi sinh. Bà đã góp gom, ấp ủ, chắt chiu, nhen nhóm. Những gì bị thiêu cháy trong ngọn lửa dã man, kì lạ thay, lại được hồi sinh trong ngọn lửa của bà! Cứ thế cuộc đời bà cháu được chở che, duy trì qua bao năm tháng. Cứ thế sự sống muôn đời được giữ gìn nuôi dưỡng, trường tồn. Chính ngọn lửa của lòng bà đã nhen lên ngọn lửa bền bỉ trong bếp lửa kia! Vừa kể lại, vừa tỏ lòng thương nhớ, biết ơn, vừa suy tư. Đến đây nhà thơ mới đúc kết về sự kì lạ và linh thiêng bếp lửa của bà:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp ỉu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lứa!
Và đứa cháu hiếu thảo ấy giờ đây đã lớn, đã đi rất xa nơi bếp lửa của bà, đã biết đến khói trăm miền, đã vui với ngọn lửa trăm nhà. Cháu đã đi ra với đất rộng trời cao, đến với những chân trời hạnh phúc. Nhưng trong lòng cháu vẫn chỉ nhớ về ngọn khói đã làm nhèm mắt cháu thuở lên bốn, chỉ nhớ về ngọn lửa tảo tần nắng mưa nơi góc bếp của bà. Cháu chẳng bao giờ quên bếp lửa bởi đó là cội nguồn, bởi cuộc đời cháu đã được nhen lên từ trong ngọn lửa ấy:
Giờ cháu đã đi xa.
Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chắc lúc nào quên nhắc nhở:
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa'?...
Lời nhắc ấy là lời nhắc của ngọn lửa mà cháu đã mang theo từ bếp lửa của bà? Thế là ngọn lửa của bà giờ đây đã cháy trong lòng cháu! Một bếp lửa của cuộc đời mới được nhen lên! Cứ thế, ngọn lửa của sự sống truyền đời bất diệt!
“Bếp lửa” là bài thơ cảm động! Tình cảm dạt dào trong lòng đã tìm đến một giọng điệu, một nhịp điệu thật phù hợp, ấy là nhịp bập bùng của lửa! Giọng kể lể và bộc bạch cứ tràn ra, cứ dâng lên, mỗi ngày một nồng nàn, ấm nóng. Đâu phải ngẫu nhiên bài thơ bắt đầu bằng một đoạn ba câu, rồi càng những đoạn sau, số câu trong từng đoạn nhiều mãi. Khi số lượng không nhiều, thì giọng thơ lại cuộn lên. Lối trùng điệp được sử dụng hết sức biến hóa. Những kiểu câu lặp lại, những vế câu láy lại, những lời nhấn nhá thật nhiều. Tất cả phối hợp với nhau góp phần tạo nên sự dạt dào xáo động của tâm tình, tất cả góp phần tạo nên cái nhịp chờn vờn, bập bùng, dai dẳng của ngọn lửa. Vì lối viết như vậy mà người đọc bị cuốn vào âm điệu thật đặc biệt. Đọc “Bếp lửa” chẳng những thấy được một dòng tâm tư sâu nặng dạt dào của một đứa cháu nghĩa tình hiếu thảo, mà còn như thấy rõ ngọn lửa cứ chờn vờn, bập bùng suốt cả âm điệu nồng hậu của bài thơ.
Đọc bài thơ này, nhìn lại bếp lửa thân quen trong góc bếp nhà mình, hẳn cái nhìn của chúng ta chẳng thể còn như trước.
Bài mẫu 2
Tình cảm gia đình là một chủ đề quan trọng trong văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Viết về đề tài này, đã có những tác phẩm tôn vinh tình mẫu tử, tình cha con thiêng liêng. Và nhà thơ Bằng Việt đã đóng góp vào việc làm phong phú thêm chủ đề này thông qua tình cảm giữa bà và cháu trong bài thơ “Bếp lửa”.
Bài thơ được viết năm 1963, khi nhà thơ đang học và sinh sống tại Liên Xô. Trong nước, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra khốc liệt. Nhớ về quê hương trong những ngày đó, Bằng Việt gửi đi một cảm xúc sâu lắng và nhớ nhung đến bà già của mình, người mang trên mình bao nỗi thương và sự hy sinh.
Bài thơ mang tựa đề “Bếp lửa” nhưng điều dễ nhận thấy là hình ảnh sâu sắc ấy được lấy cảm hứng từ người bà. Bếp lửa trong ký ức của nhà thơ không chỉ là nơi nấu nướng mà còn là biểu tượng của tình thương gia đình. Hình ảnh bếp lửa nồng ấm trong bài thơ là hình ảnh tượng trưng cho tình yêu thương chân thành giữa bà và cháu. Nhắc đến bếp lửa là nhắc đến bà với mọi kỷ niệm và tình cảm: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Cái nắng, cái mưa ấy là gì?
Đó là những năm tháng đầy khó khăn và cực nhọc:
“Đó là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”.
Nhà thơ tái hiện lại những năm tháng khốc liệt của đại đói 1945. Khi đó, ngay cả người cha trẻ tuổi nhất cũng phải “đánh xe khô rạc ngựa gầy” mà không đủ ăn. Nhưng bà già với tuổi già yếu, vẫn cố gắng nuôi dạy cháu. Dù đói, dù chết đói vẫn rình rập, bà vẫn dành hết tình thương cho cháu trong những bữa ăn đầy gian nan:
'Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói”
Khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.
Cùng với hình ảnh bếp lửa là tiếng tu hú:
“Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế”
Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trẽn những cánh đồng xa”.
Tiếng tu hú không chỉ gợi lên cảnh đồng vàng rộn ràng mà còn là biểu tượng của niềm đau, nỗi buồn. Nhưng bà, với tình yêu thương vô bờ, vẫn âm thầm che chở, bảo vệ cháu trước những khó khăn. Ngọn lửa trong bài thơ không chỉ là lửa trong lò nấu ăn mà còn là tình thương, lòng hi sinh cao cả của bà. Dù mọi thứ xung quanh trở nên phế tích, hoang tàn, sự sống trong bà vẫn rực sáng như ngọn lửa vẫn đốt mãi trong bếp nhỏ: “Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.
Thời gian trôi qua, “niềm tin dai dẳng” trong bà vẫn chưa bao giờ phai mờ, vẫn sáng rực như “bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”. Bà vẫn luôn truyền đạt tình thương, sự ấm áp qua ngọn lửa bếp. Bếp lửa không chỉ là nơi nấu nướng mà còn là biểu tượng của tình thân, tình yêu thương của bà dành cho cháu. Đó là điều kì lạ và thiêng liêng không thể nào diễn tả hết: “Ôi kì lạ và thiêng liêng! Bếp lửa!”
Tình thương của bà với cháu đồng hành suốt cuộc đời. Giờ đây, khi cháu đã trưởng thành, có nguồn khói, có ngọn lửa, có niềm vui đầy ắp. Nhưng không bao giờ cháu quên đi những lời dạy của bà, những lúc bà nhen lửa bếp: “Sớm mai này bà nhen lửa chưa?...”. Ngọn lửa ấy, vẫn sáng mãi trong trái tim cháu, mãi mãi không bao giờ tắt.
Tình thương giữa bà và cháu trong bài thơ “Bếp lửa” là điều đặc biệt, cảm động. Bằng cách này, nhà thơ đã tôn vinh mối quan hệ gia đình và những giá trị tinh thần cao cả mà bà đã truyền lại cho thế hệ sau. Bà không chỉ là người thân yêu, mà còn là biểu tượng của sự hi sinh, tình yêu thương vô bờ của những người mẹ, người bà trên đất nước Việt Nam.
Từng chi tiết trong “Bếp lửa” đều thể hiện sâu sắc tư duy của nhà thơ, qua những hình ảnh tươi sáng, giàu ý nghĩa. Điều quan trọng nhất là cảm xúc chân thành và lòng biết ơn không ngừng của nhà thơ dành cho người bà yêu quý của mình.
Khi đọc và cảm nhận tình thương trong bài thơ “Bếp lửa”, người đọc sẽ hiểu và trân trọng hơn những giá trị gia đình và tình cảm thân thương trong cuộc sống của mình.
