
Angie tiếp tục hỏi:
– Nếu vậy, Yoga cổ đại đã truyền đạt như thế nào?
Kris đáp:
– Theo kinh Veda, Yoga cổ đại chia thành ba trường phái là Karma Yoga (hành động), Jnana Yoga (tri thức) và Bhakti Yoga (sùng bái). Mặc dù có ba con đường khác nhau, nhưng tất cả đều hướng tới một mục đích cuối cùng, là hòa nhập với Thượng Đế.
– Theo truyền thống ghi chép trong kinh Veda, Yoga cổ đại đã chia thành ba môn phái là Karma Yoga (con đường hành động), Jhana Yoga (con đường tri thức) và Bhakti Yoga (con đường sùng bái). Dù ban đầu có ba con đường khác nhau nhưng cuối cùng chúng hợp nhất làm một vì tất cả chỉ là những phương tiện. Phương tiện có thể khác nhau nhưng mục đích vẫn là một, hay trở về hợp nhất với Thượng Đế.
Theo quan điểm Ấn Độ giáo, mọi vật đều hướng về Thượng Đế. Từ xa xưa, trong mọi hoàn cảnh, dù được gọi là cái này hay cái khác, từ hình thức này đến hình thức khác, dù vô tình hay cố ý, tất cả đều trở về nguồn gốc thiêng liêng mà chúng bắt nguồn từ đó. Chúng ta có thể thấy biển cả trở về nguồn qua những đợt sóng cuồn cuộn. Ngọn gió trở về nguồn khi thổi qua mặt đất. Tương tự, cây cỏ trong rừng nảy mầm, đơm hoa và các sinh vật di chuyển từng bước một. Con người cũng vậy, họ trở về qua nhiều hình thức, có khi cao quý đẹp đẽ nhưng cũng có khi mê muội lạc lối.
Khoa học ngày nay gọi sự di chuyển này là tiến hóa, hoặc là sự thay đổi để trở nên tốt hơn, rồi tiến đến hoàn thiện. Tại sao như vậy? Bởi vì tất cả mọi vật đều xuất phát từ một nguồn gốc thiêng liêng hoàn hảo và phải trở về với nguồn gốc đó – tất cả cùng một thể. Ấn Độ giáo và một số tôn giáo khác gọi nguồn gốc này bằng danh từ “Thượng Đế”. Phật giáo gọi là “Phật tánh”, và khoa học gọi là “năng lượng nguyên thể”.
Theo quan điểm của khoa học, năng lượng này tồn tại trong tất cả mọi vật. Từ giọt nước trong đại dương đến các loại khoáng chất, từ thảo mộc đến loài động vật hay con người. Nó nằm sâu bên trong, che giấu dưới một tấm màn mịt mùng của yếu tố không gian bên ngoài nên sự tìm kiếm đúng đắn là quay vào bên trong chứ không hướng ra bên ngoài. Sự sai lầm của con người là họ thường đi tìm ở bên ngoài, vì vậy họ bị lạc lối và mất phương hướng. Ban đầu, con người đi tìm một cách vô thức về sự hạnh phúc, thỏa mãn tham vọng cá nhân, do đó họ sẽ học bài học về nỗi đau. Sau khi học được bài học này, cuộc tìm kiếm trở nên có ý thức hơn, họ nhận ra rõ mục đích của mình và sử dụng kinh nghiệm học được để tiến về mục tiêu.
Có nhiều cách giải thích về con đường này tùy thuộc vào phong tục, tập quán, và điều kiện địa lý, do đó sinh ra nhiều tôn giáo khác nhau. Nếu biết cởi bỏ các kiến thức hoặc các quy định hẹp hòi của tôn giáo, ta có thể thấy tất cả mọi vật đều hướng về nguồn sống thiêng liêng này.
Angie đã phát biểu:
– Tôi không hiểu rõ, xin ông nói thêm về truyền thống Yoga theo quan điểm của Ấn Độ giáo.
Kris trả lời:
– Nếu quan sát, bạn sẽ thấy con người dù sống ở nơi nào cũng đều đang đi trên con đường để trở về với nguồn gốc thiêng liêng đó. Con đường này kéo dài qua nhiều kiếp sống gọi là luân hồi. Họ chết đi và đầu thai trong kiếp sống mới. Trong mỗi kiếp, họ phải học một số bài học để trở nên tốt đẹp hơn. Có người học được ngay, có người không học được, do đó phải học đi học lại nhiều lần. Đây là một hành trình gian nan kéo dài qua rất nhiều kiếp sống vì có rất nhiều ảo ảnh gây ra bởi khí lực vô minh gọi là g
Khí lực đầu tiên là sự bất động (tamas), nó thúc giục con người không làm gì cả. Bạn có thể thấy nhiều người lười biếng, thẫn thờ không muốn làm gì. Lúc nào họ cũng trầm mình trong trạng thái bất động, âm u, hay trong sự ngu tối, mịt mờ. Họ sống một cách thụ động, không mục đích, không ý thức mà chỉ biết ăn hay ngủ và chỉ muốn yên thân trong hoàn cảnh đó. Đây là những người có mức tiến hóa rất thấp hay đi rất chậm nên phải mất thời gian rất lâu để học hỏi. Cũng có những người đã đi xa nhưng quay ngược lại vì chịu ảnh hưởng bởi các dược chất như rượu hay ma túy vì bản thân họ ham muốn sự bất động. Họ chưa biết hưởng những niềm vui trí thức hay ước vọng tâm linh, do đó họ còn phải trải qua một thời gian rất lâu trong nhiều kiếp nữa để học hỏi.
Karma Yoga cổ thúc giục mọi người hoạt động thay vì bất động. Trên con đường này, con người sẽ gặp rất nhiều ham muốn hay dục vọng dù đó là những thú vui vật chất, xấu xa, để thúc giục con người hoạt động qua một khí lực khác ngược lại với sự bất động.
Khí lực này là sự hoạt động (rajas), tạo ra những ham muốn, dục vọng thúc đẩy con người hành động. Qua lòng ham muốn, con người lại hoạt động quá độ trong mọi lĩnh vực. Lòng tham tạo ra những khí lực dồi dào, hung hăng khiến họ lao vào hoạt động để thỏa mãn. Những người này sẽ đi tìm những thứ bên ngoài, họ thu thập, vơ vét, gom góp tích trữ vì nghĩ rằng họ sẽ sung sướng với những vật chất đó. Nhưng thực ra đó chỉ là lòng ham muốn, ích kỷ, chịu ảnh hưởng bởi khí lực vô minh rajas mà thôi.
Trong giai đoạn này, điều quan trọng nhất họ cần học là sự đau khổ. Tất cả những kẻ tham lam, ích kỷ đều phải trải qua bài học này. Do đó, có một quy luật gọi là Nhân quả. Mọi hành động đều có phản ứng ngược lại, gây nhân nào gặp quả nấy. Hiện nay, đa số nhân loại đang trải qua giai đoạn này vì họ chưa tìm được niềm hạnh phúc thực sự bên trong nên phải tìm vui qua sự sở hữu, chiếm đoạt tài sản bên ngoài. Bởi vậy có sự bóc lột và chiến tranh. Qua những biến cố này, con người mới hiểu được sự đau khổ nhưng để học bài học này, họ còn phải trải qua rất nhiều kiếp vì đây là một bài học rất khó học.

Angie hỏi:
– Nhưng ai đã đặt ra quy luật này? Các yếu tố này bắt nguồn từ đâu?
Kris trả lời:
– Không ai đặt ra luật lệ này cả vì đó là những quy luật của vũ trụ. Nó tồn tại và chi phối mọi vật trong vũ trụ. Nếu hỏi ai đã làm trái đất quay quanh một quỹ đạo hoặc mặt trời chiếu sáng, không ai có thể trả lời vì đó là luật của vũ trụ. 'Thượng Đế' chỉ là một danh từ để ám chỉ các quy luật của vũ trụ.
Ngày nay, trên khắp thế giới, mọi người đều cuồng nhiệt trong việc tích trữ. Họ làm việc không ngừng để thu thập nhiều tài sản vật chất, vì họ nghĩ càng nhiều càng tốt. Từ đó phát sinh nhiều tệ nạn xã hội như bóc lột, áp bức, đè nén, và chênh lệch tài sản.
Dù thành công hay thất bại, giàu có hay nghèo khổ, mọi xã hội đều có nhiều người mắc bệnh tâm thần như lo lắng, sợ hãi, buồn bã, chán nản, và nhiều hơn nữa. Càng ngày càng có nhiều người mắc bệnh nặng. Đối diện với cái chết, họ nhận ra tiền bạc, của cải, danh vọng không thể giúp họ sống mãi. Đó là bài học mà họ phải học nếu có thể trong kiếp này.
Trải qua nhiều kiếp sống, nhiều đau khổ, con người nhận ra họ luôn bất mãn, luôn muốn nhiều hơn. Nhưng không bao giờ họ có thể thỏa mãn được với của cải vật chất.
Khi hiểu được điều đó, một số người từ bỏ tất cả để tìm kiếm sự yên bình thông qua tu tập, mong muốn thoát khỏi nỗi đau khổ. Nhưng con người không thể tránh khỏi lòng tham vọng, ham muốn sẽ theo họ đến nơi đâu. Hình ảnh của ham muốn sẽ luôn ám ảnh họ. Thể xác và tâm trí của họ vẫn bị ám ảnh bởi ham muốn, bởi dục vọng không dễ dàng loại bỏ.
Nhìn vào bên ngoài, có vẻ những tu sĩ rất thanh thiện, nhưng bên trong họ là một cuộc chiến lớn. Nhiều tu sĩ Ấn Độ tu hành khổ hạnh, kiềm chế thân thể để thoát khỏi áp lực của dục vọng, nhưng họ không thể đạt được sự thanh tịnh bằng cách ép buộc thân thể như vậy.
Angie nói:
– Vậy họ có thể thay đổi như thế nào? Tôi nghĩ chỉ có người dũng cảm mới từ bỏ vật chất và cuộc sống xã hội để tìm kiếm sự yên bình trong rừng sâu hay núi thẳm.
Kris cười:
– Con đường Karma Yoga dạy con người phải hoạt động, không ngồi yên im hay tránh né. Không phải từ bỏ cuộc sống thành thị để sống ẩn dật trong rừng sâu, hay từ bỏ tài sản để đổi lấy an lạc tinh thần. Nhiều tu sĩ không quan tâm đến vật chất nhưng lại mong muốn sự ca tụng từ người khác. Họ chỉ đổi một loại ham muốn lấy loại khác, vẫn chưa vượt qua được ham muốn cá nhân.
Angie hỏi:
– Vậy họ cần làm gì?
Kris đáp:
– Họ cần tiếp tục hành động vì chỉ thông qua hành động mới họ có thể học hỏi, thay đổi và trở nên hoàn thiện hơn. Họ có thể sống trong thành phố như mọi người nhưng phải biết cách vượt qua ảo ảnh của thế giới vật chất. Họ vẫn làm việc, hành động như mọi người nhưng trong lòng họ đã hiểu rõ và thả lỏng mọi ràng buộc. Họ không từ bỏ trách nhiệm gia đình hay xã hội nhưng hành động với mục đích khác. Họ có thể giàu có, nhưng họ không gắn bó với tài sản. Họ coi mình là người quản lý tài sản chứ không phải là chủ nhân. Họ hành động vì lợi ích chung, không phải cá nhân. Tóm lại, họ làm việc để giúp ích cho xã hội, không chỉ cho bản thân.

Kris nghiêm túc nói:
– Trong giai đoạn này, có một xu hướng tinh tế diễn ra vì mọi hành động tốt cũng có thể chứa đựng mục đích cá nhân nảy sinh từ những động cơ vi tế sâu kín trong tâm hồn mà không nhiều người nhận ra. Có người làm việc vì lợi ích xã hội nhưng vẫn mong muốn thành công và sợ thất bại. Họ lo lắng về kết quả, do đó động cơ của họ vẫn bắt nguồn từ ham muốn. Họ lo sợ khi thất bại và hạnh phúc khi thành công. Do đó, họ mong muốn được công nhận hoặc cao lên cá nhân. Kết quả là dù làm việc tốt nhưng vẫn chứa đựng một ý đồ cá nhân. Đó là một tham vọng vi tế bên trong bản ngã cá nhân. Mọi hành động có tính cá nhân sẽ khiến họ bị ràng buộc bởi hành động hoặc kết quả. Do đó, họ vẫn còn bị gò ép bởi sức mạnh của tâm trí sôi nổi rajas.
Chỉ khi người làm không cảm nhận được bản thân, công việc, hoặc kết quả của hành động, dù là sự biết ơn hay sự khâm phục, họ mới thật sự theo đuổi con đường Karma Yoga. Khi đã hoàn toàn thả lỏng, không mong chờ gì từ thế gian, cũng không mong chờ gì từ thượng đế, không mong chờ gì từ kiếp này, cũng không mong chờ gì từ kiếp sau, không mong chờ sự công nhận, cũng không mong chờ phần thưởng tinh thần mà chỉ hoạt động mà không để ý tới kết quả, thành công hay thất bại, luôn luôn hoạt động nhưng vẫn giữ tâm bình tĩnh như không có chuyện gì xảy ra, đó mới thực sự là sự trạng thái bình thản cần thiết để hoàn thiện bài học Karma Yoga, hay con đường hành động.
Khi chấp nhận được cả thành công lẫn thất bại, vui vẻ lẫn buồn phiền, cao lên lẫn sụp đổ, yêu thương lẫn căm hận, thì họ đạt đến trạng thái bình yên, không chậm trễ (tamas) cũng không náo loạn (rajas), vì việc hành động “vô mong tìm” là bài học quan trọng của con người đi trên con đường Karma Yoga. Những người này hòa nhã và thư thái trước mọi biến cố trong cuộc sống vì hành động là phận sự. Họ không đi tìm hành động khi không cần thiết, không từ chối hành động khi nó cần thiết, mà vui vẻ hành động khi trách nhiệm yêu cầu và bình tĩnh trước mọi kết quả.
Những người này, dù sống trong sự giàu có và xa hoa, ăn mặc sang trọng, sống trong hoàn cảnh thịnh vượng nhưng vẫn yên bình, tự do. Nếu họ sống trong điều kiện nghèo đói, ăn một bữa có một bữa không, sống như kẻ bần cùng thì tâm hồn vẫn bình tĩnh trước mọi biến cố. Khi sự vật bên ngoài đến, họ không khao khát; khi chúng đi, họ không tiếc nuối vì họ có thể sống trong mọi tình huống. Không có gì làm họ nôn nóng, không có gì làm họ quan tâm, không có gì làm họ lo lắng mà lúc nào cũng bình thản, vì họ biết rằng mọi thứ chỉ là những ảo ảnh chói lọi của sự hiện hữu vô minh (guna).
Ai sống được như vậy chứng tỏ họ đã hoàn thành con đường Karma Yoga và tiến tới nơi mà mọi con đường đều hòa hợp và thống nhất với nguồn sống thiêng liêng vô cùng kia. Dù được gọi là “Thượng Đế” hay bất kỳ danh xưng nào khác, điều đó không còn quan trọng. Những người này đã loại bỏ được những giới hạn của bản ngã, đã thanh lọc được dục vọng và nhìn thấy mọi thứ trên thế gian này liên kết như thế nào. Họ nhận ra rằng vũ trụ này là một vẻ đẹp tuyệt vời, không gì có thể diễn tả hết. Khi đó, họ sẽ trải nghiệm niềm hạnh phúc vô biên, niềm vui sung sướng mà Ấn giáo gọi là sự hòa hợp “bản ngã vào với chân ngã”.
Angie suy tư, sau đó hỏi:
– Theo con đường này, con người phải trải qua nhiều kiếp sống và học từ đau khổ để trở nên hoàn thiện. Nhưng có bao nhiêu người tin rằng có sự tái sinh qua nhiều kiếp sống?
Kris nở nụ cười:
– Tin hay không là quyền tự do của mỗi người nhưng quan điểm về sự luân hồi, có nhiều kiếp sống đã tồn tại từ lâu đời. Cả Ấn Độ giáo và Phật giáo đều giảng giải về điều này. Nếu bà đọc các tác phẩm của Hy Lạp, sẽ thấy các triết gia như Pythagoras, Plato và Aristoteles đều tin vào sự tái sinh sau khi chết. Plato đã viết rất chi tiết về chủ đề này trong các tác phẩm như Phaedo và Republic, và nếu bà chú ý, bà cũng sẽ thấy Chúa Jesus đã dạy về điều này trong Kinh Thánh.
Ông Kris tiếp tục mỉm cười, nhìn tôi với ánh mắt huyền bí và nói tiếp:
– Trên phương diện đạo đức và luân lý, nếu ông bà xem xét quan niệm “con người sinh ra, chết đi, sau đó tái sinh qua nhiều kiếp sống dựa trên những hành động của họ,” họ có thể trả lời những câu hỏi mà các triết gia và nhà khoa học ngày nay vẫn chưa có lời giải. Tại sao con người sinh ra chỉ để chết? Ý nghĩa của cuộc sống là gì nếu chỉ có một lần sống và chết là hết? Tại sao có người sinh ra trong sự sung túc trong khi người khác lại chịu đựng đau khổ? Tại sao có người được sinh ra trong những nước giàu có, tiên tiến, trong khi người khác sống trong đau khổ và bất hạnh? Không ai có thể trả lời những câu hỏi này nếu họ không tin vào quy luật Luân hồi và Nhân quả.
Hãy coi đây là một “lý thuyết” tạm thời, ông bà sẽ thấy rằng đó là một lý thuyết hợp lý, công bằng và đáng tin cậy hơn bất kỳ quan niệm nào khác. Điều này khác biệt với quan niệm “tiền định” rằng mọi sự hay số phận đều được định trước bởi một “đấng tối cao” mà con người không thể thoát ra. Điều này có nghĩa là con người không có tự do và chỉ là công cụ của số phận. Điều này biến con người thành nô lệ, không thể thay đổi số mạng của mình. Ai có quyền định số phận con người như vậy? Không thể có ai có thể trừng phạt con người qua số mạng mà họ không thể thay đổi. Cuộc sống của con người được tạo nên bởi họ qua nhiều kiếp sống. Những người được hưởng sung túc là vì họ đã tích lũy từ trước, và những người không may mắn cũng là do quá khứ của họ mà không mấy ai nhớ. Mọi sự kiện xảy ra là do chính họ tạo ra cho bản thân, chứ không phải do trừng phạt hay ban thưởng từ ai khác.
