
Sự xuất hiện của hơn 40 doanh nghiệp có giá trị vốn hóa trên 1 tỷ USD trên thị trường chứng khoán Việt Nam diễn ra như thế nào, họ đã phát triển và góp phần định hình nền kinh tế như thế nào?
Quá trình phát triển nền kinh tế song hành với sự lớn mạnh của các doanh nghiệp Việt. Đến ngày 29/4/2025, thị trường chứng khoán Việt Nam đã ghi nhận hơn 40 doanh nghiệp có giá trị vốn hóa trên 1 tỷ USD.
Năm thành lập của những “gã khổng lồ” này phản ánh rõ nét sự chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam từ thời kỳ kế hoạch hóa tập trung sang giai đoạn hội nhập và phát triển vượt bậc.

Trước 1975: 8 doanh nghiệp tỷ đô ra đời
Trước năm 1975, đã có 8 doanh nghiệp tỷ đô được thành lập, phần lớn trong số đó là các doanh nghiệp quốc doanh.
Vietcombank (1963) đứng đầu với vốn hóa 18,41 tỷ USD, theo sau là BIDV (1957, 9,33 tỷ USD). Các doanh nghiệp lớn khác bao gồm Sabeco (1875, 2,37 tỷ USD), Vietnam Airlines (1956, 2,69 tỷ USD), và Petrolimex (1956, 1,69 tỷ USD), đều được thành lập trong giai đoạn này.
Vietcombank, tổ chức có giá trị vốn hóa lớn nhất Việt Nam, có nguồn gốc từ Sở Quản lý Ngoại hối Trung ương (thuộc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam). Đây là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủ chọn thực hiện thí điểm cổ phần hóa.
Sau 1975: Đổi mới và sự bùng nổ các doanh nghiệp tỷ đô
Giai đoạn 1975-1985 đánh dấu sự khởi đầu chậm chạp với sự ra đời của các doanh nghiệp như Vinamilk (1976, 4,63 tỷ USD), Becamex IDC (1976, 2,19 tỷ USD), và REE (1977, 1,24 tỷ USD) trong các lĩnh vực F&B, xây dựng, và hạ tầng.
Bà Mai Kiều Liên – TGĐ Vinamilk từng chia sẻ rằng khi quyết định theo ngành này, người cha của bà đã nói: 'Sau chiến tranh, dinh dưỡng là điều cần thiết nhất đối với trẻ em.'
Giai đoạn 1985-1995 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp sau Đổi mới, với 16 doanh nghiệp tỷ đô. Ngành ngân hàng chiếm ưu thế với 11 doanh nghiệp, bao gồm Vietinbank (1988, 7,68 tỷ USD), Techcombank (1993, 7,18 tỷ USD), và VPBank (1993, 5,05 tỷ USD), phản ánh nhu cầu tín dụng và đầu tư trong bối cảnh Việt Nam gia nhập ASEAN (1995).
Các ngành khác như công nghệ (FPT, 1988, 6,19 tỷ USD), thép (Hòa Phát, 1992, 6,27 tỷ USD), và bất động sản/đa ngành (Vingroup, 1993, 10,00 tỷ USD) cũng phát triển mạnh, tạo nền tảng cho các ngành công nghiệp hiện đại.
Một sự kiện đáng chú ý trong năm 1993 là sự xuất hiện của các tỷ phú Đông Âu khi các tập đoàn lớn như Vingroup, Techcombank, VPBank và Masan Group đều được thành lập trong năm này.
Vingroup, do ông Phạm Nhật Vượng làm Chủ tịch HĐQT, được thành lập vào năm 1993 và hiện là doanh nghiệp tư nhân lớn nhất tại Việt Nam.
1995-2005 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp tỷ đô trong những lĩnh vực ‘mới mẻ’ như hàng tiêu dùng, chứng khoán, ICT, và công nghệ viễn thông…
Masan Consumer (1996, 4,84 tỷ USD), VIB (1996, 1,99 tỷ USD), FPT Telecom (1997, 1,70 tỷ USD), SSI (1999, 1,72 tỷ USD), Khang Điền (2001, 1,02 tỷ USD), và Mobile World Group (2004, 3,42 tỷ USD) là những doanh nghiệp ra đời trong giai đoạn này, phát triển mạnh nhờ sự tăng trưởng kinh tế và mức thu nhập đầu người gia tăng.
Giai đoạn 2005-2015 chứng kiến sự ra đời của 10 doanh nghiệp tỷ đô, trong đó bất động sản và viễn thông là hai ngành nổi bật.
Vinhomes (2008, 9,78 tỷ USD), Viettel Global (2007, 7,96 tỷ USD), và ACV (2012, 7,88 tỷ USD) là những doanh nghiệp đứng đầu. Ngoài ra, các doanh nghiệp khác như Vietjet Air (2007, 1,79 tỷ USD), LPBank (2008, 3,74 tỷ USD), và Vietnam Rubber Group (2006, 3,65 tỷ USD) cũng góp phần tạo nên bức tranh doanh nghiệp tỷ đô trong giai đoạn này.
Tuy nhiên, từ năm 2015 đến nay, các doanh nghiệp mới thành lập chưa tạo được dấu ấn lớn trên bản đồ tỷ đô. Chỉ có hai doanh nghiệp là Sunshine Homes và CTCP Điện lực Gelex (GEE) đạt được giá trị vốn hóa này.
