Với nhiều người, tuổi thơ là quãng thời gian tươi đẹp nhất trong cuộc đời. Thế nhưng, không phải đứa trẻ nào cũng được hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc đó.
Hơn hai thập kỷ qua, mỗi đêm, khi Arthur Chareire nằm xuống, anh không cố gắng ngủ mà chỉ nhắm mắt để cố gắng nhớ lại khuôn mặt của mẹ mình, một người phụ nữ Việt Nam đã sinh ra anh nhưng rời bỏ anh khi anh mới chỉ 4 ngày tuổi.
"Tôi thường xuyên gặp phải những cơn ác mộng, nhiều hơn là gặp mẹ mình," vị đạo diễn 31 tuổi người Pháp gốc Việt chia sẻ trong nỗi buồn.
Ký ức duy nhất mà anh có về mẹ là tên của bà trên một tờ giấy khai sinh được lập vội vàng. Trên đó, Arthur mang tên Việt là Vũ Văn Dậu, mẹ anh tên Nguyễn Thị Hợi, làm nghề nông và quê ở xã Dương Xá, huyện Gia Lâm.
Một phần thông tin đáng lẽ thuộc về người cha lại hoàn toàn trống rỗng.

Arthur cũng không chắc liệu đây có phải là danh tính thật của mẹ mình hay không, vì theo hồ sơ lưu trữ tại Bệnh viện Bạch Mai, ngay sau khi sinh anh, mẹ anh đã tự ý rời viện.
Các bác sĩ đã lần theo dấu vết để tìm đến quê của người phụ nữ đã ghi tên trên giấy khai sinh, một xã nhỏ nằm cách trung tâm Hà Nội 20 km, nhưng họ không thể tìm thấy người phụ nữ tên Nguyễn Thị Hợi.
Vì vậy, hồ sơ của Dậu đã được chuyển đến phòng công tác xã hội của bệnh viện, nơi không lâu sau đó, một cặp vợ chồng người Pháp sẵn sàng nhận cậu làm con nuôi.
Năm 1994, Dậu theo bố mẹ nuôi đến Pháp, bắt đầu một cuộc sống mới với một danh tính mới: Arthur Chareire.

Arthur lớn lên ở Auvergne, một vùng nông thôn thuộc tỉnh Cantal miền Nam nước Pháp. Anh mô tả nơi đây là vùng đất núi lửa, với những ngọn núi cao, tuyết phủ trắng vào mùa đông và đàn bò ở khắp mọi nơi.
Ở Auvergne, anh có một tuổi thơ khá hạnh phúc dưới tình thương của bố mẹ nuôi, luôn được tạo điều kiện để học tập và phát triển. Chàng trai mang dòng máu Việt này cứ thế lớn lên tại Pháp, thi đỗ trung học và sau đó tốt nghiệp đại học.
Sau khi ra trường, Arthur bắt đầu sự nghiệp với nghề đạo diễn. Anh góp vốn mở một công ty sản xuất phim ở Paris. Tuy nhiên, càng trưởng thành, anh lại càng cảm thấy ký ức về cội nguồn như một gánh nặng. Mặc dù hòa đồng với mọi người, nhưng trong lòng anh lúc nào cũng cảm thấy cô đơn.
Những buổi trị liệu tâm lý liên tục không thể giúp Arthur xoa dịu nỗi đau dai dẳng trong lòng. "Tôi luôn có cảm giác sợ bị bỏ rơi, ít bạn bè, cô độc. Dù đã gặp bác sĩ tâm lý, tôi vẫn khao khát tìm lại mẹ đẻ ở Việt Nam, dù tôi biết hành trình đó sẽ rất khó khăn," anh chia sẻ.

Vào tháng 4 vừa qua, Arthur đã quyết định từ bỏ công việc hiện tại. Anh lên kế hoạch trở về Việt Nam, xin visa 3 tháng và mua một chiếc xe máy để tự mình bắt đầu hành trình tìm lại mẹ.
Chờ đón anh ở đất nước nhiệt đới tràn ngập nắng gió là một đích đến mơ hồ, không có bất kỳ thông tin nào ngoài giấy khai sinh, không một mảnh ký ức nào về người phụ nữ bí ẩn, nhưng cũng không có - dù chỉ là một lời oán trách.
"Có thể năm đó, mẹ tôi gặp khó khăn về tài chính, không đủ khả năng nuôi con, hoặc mẹ không có chồng, sợ bị xã hội đánh giá, không đủ dũng cảm vượt qua mọi điều," Arthur chia sẻ.

Việc Arthur không thể giữ lại bất kỳ ký ức nào về người mẹ ruột của mình không phải là lỗi của anh. Đối với một đứa trẻ chỉ mới 4 ngày tuổi, các nhà khoa học nghi ngờ là ký ức còn chưa hình thành.
Họ gọi đó là "chứng mất trí thời thơ ấu", một hiện tượng mà trẻ em khi lớn lên sẽ dần dần quên đi mọi thứ chúng thấy, nghe và cảm nhận được trước 3 tuổi.
Các thử nghiệm với trẻ sơ sinh đã chứng minh rằng, một đứa trẻ 4 tuổi có thể nhớ lại những ký ức của năm 3 tuổi, nhưng gần như quên hết những gì của năm 2 tuổi.
Khi đến 7 tuổi, chúng chỉ còn nhớ khoảng 72% sự kiện trong năm 3 tuổi. Con số này tiếp tục giảm xuống còn 35% khi lên 8 hoặc 9. Và khi trưởng thành, hầu như tất cả chúng ta đều quên gần như toàn bộ ký ức từ 3 năm đầu đời.

Ngay cả khi bạn còn mơ hồ nhớ lại một sự kiện nào đó, như là những gì đã diễn ra trong bữa tiệc sinh nhật thứ ba của mình, các nhà khoa học cho rằng rất có thể đó là một "giả ký ức", một câu chuyện mà bạn tự tạo ra từ lời kể của bố mẹ, từ những bức ảnh hay từ một nguồn thông tin nào đó ngoài trí nhớ của bạn.
Bởi vì theo giả thuyết được các nhà khoa học hiện nay đồng thuận, bộ não của trẻ sơ sinh dưới 3 tuổi chưa phát triển đầy đủ để có thể lưu trữ ký ức.
Chúng ta biết rằng ký ức hình thành nhờ sự kết nối các neuron thần kinh trong một khu vực của não gọi là hồi hải mã. Khi chúng ta thấy, nghe và cảm nhận một sự kiện, các tín hiệu từ các giác quan sẽ được truyền tới não và kích thích sự hình thành các kết nối giữa các tế bào thần kinh gọi là synap.
Khi chúng ta muốn hồi tưởng lại một sự kiện, bộ não sẽ kích thích những synap đã hình thành từ sự kiện đó, giúp tái hiện ký ức trong não giống như cách phát một cuộn băng.

Tuy nhiên, trong suốt quá trình phát triển từ sơ sinh đến trưởng thành, bộ não của trẻ em liên tục sản sinh các tế bào thần kinh mới trong vùng hồi hải mã.
Khi các tế bào thần kinh mới được sinh ra một cách ngẫu nhiên, chúng sẽ xen vào giữa các tế bào thần kinh cũ. Giống như những cây mầm vươn lên từ mặt bê tông, chúng phá vỡ các synap nơi ký ức của trẻ đã được lưu trữ.
Kết quả là mọi ký ức từ thời thơ ấu của chúng ta sẽ dần dần phai mờ theo thời gian, cho đến khi não bộ phát triển đầy đủ và các tế bào thần kinh mới không còn được sinh ra trong khu vực hồi hải mã nữa.
Kể từ lúc đó, những ký ức được lưu giữ sẽ trở thành vĩnh viễn.

Việc các tế bào thần kinh mới hình thành ở vùng hồi hải mã, phá vỡ những ký ức thời thơ ấu của chúng ta, được gọi là giả thuyết sinh thần kinh. Giả thuyết này đã được xác nhận qua một số thí nghiệm trên chuột, trong đó các nhà khoa học can thiệp vào bộ não của chuột sơ sinh để ngừng sự phát triển của não, hay nói cách khác là không cho phép sản sinh thêm neuron mới.
Kết quả thí nghiệm cho thấy những con chuột không phát triển đã lưu giữ ký ức thời sơ sinh tốt hơn so với những con chuột phát triển bình thường. Nếu đúng như vậy, chứng mất trí thời thơ ấu sẽ là một hệ quả không thể tránh khỏi của quá trình phát triển não bộ.
Đó chính là cái giá phải trả cho sự trưởng thành: trẻ em phải hy sinh ký ức của mình để trưởng thành. Hoặc nếu không, chúng sẽ phải giữ mãi bộ não của một đứa trẻ để không quên đi bất kỳ điều gì.

Tuy nhiên, trong một nghiên cứu mới đăng trên tạp chí Science, một nhóm các nhà khoa học tại Đại học Columbia và Đại học Yale, Hoa Kỳ đang tự đặt câu hỏi:
Liệu họ có thể giúp trẻ em không phải trả giá bằng ký ức để trưởng thành hay không? Liệu có thể có cách nào để giúp - ngay cả những người trưởng thành - khôi phục lại những ký ức đẹp đẽ thời thơ ấu mà họ đã đánh mất?
"Chúng ta có ký ức về những gì đã xảy ra hôm nay, về những gì đã xảy ra hôm qua, thậm chí từ nhiều năm trước. Nhưng tất cả chúng ta đều mất đi những ký ức thời thơ ấu", tiến sĩ Tristan Yates, tác giả nghiên cứu và đồng thời là nhà khoa học thần kinh nhận thức tại Đại học Columbia, chia sẻ.
Thật nghịch lý, những ký ức đó thường lại là những khoảnh khắc đẹp đẽ mà chúng ta rất muốn giữ mãi, từ ngôi nhà tuổi thơ, thú cưng hay món đồ chơi đầu tiên, cho đến gương mặt của cha mẹ, ông bà hay những người thân đã qua đời...

"Những gì diễn ra trong não bộ của bạn trong hai năm đầu đời thực sự tuyệt vời", tiến sĩ Nick Turk-Browne, một nhà khoa học thần kinh tại Đại học Yale, nhấn mạnh. "Đó là giai đoạn chúng ta bắt đầu nhận ra cha mẹ, học đi và học nói".
Để giúp người trưởng thành tái khám phá lại những ký ức ấy, tiến sĩ Nick và tiến sĩ Tristan đang cùng nhau bước vào một lĩnh vực khoa học hoàn toàn mới về ký ức, nơi họ phải thực hiện những điều mà trước đây rất ít nhà khoa học dám thử:

Nghiên cứu của Nick và Tristan tuyển chọn 26 trẻ sơ sinh, với độ tuổi từ 4 đến 25 tháng. Trong số đó, có một nửa trẻ dưới 1 tuổi.
Các em bé sẽ được bố mẹ đưa đến phòng thí nghiệm tại Đại học Yale. Họ sẽ mang theo bình sữa, núm ti giả, chăn và đồ chơi yêu thích.
Mục tiêu của thí nghiệm là làm sao để các em bé có thể nằm yên trong một chiếc máy cộng hưởng từ chức năng fMRI – những cỗ máy lớn với hình dạng vòm mà bạn thường thấy trong bệnh viện. fMRI có khả năng theo dõi sự hoạt động của từng khu vực trong não bộ.
Máy fMRI sẽ giúp tiết lộ những gì xảy ra khi các nhà khoa học cho trẻ thực hiện các bài kiểm tra liên quan đến trí nhớ.

Rõ ràng, đây là một thử thách vô cùng lớn. "Về nhiều mặt, trẻ sơ sinh là nhóm đối tượng nghiên cứu khó khăn nhất trong khoa học", tiến sĩ Nick chia sẻ.
"Chúng không thể hiểu được các chỉ dẫn của người lớn. Thời gian chú ý của chúng rất ngắn, lúc nào cũng ngọ nguậy. Nhưng chụp hình với máy cộng hưởng từ fMRI yêu cầu không được cử động. Giống như việc chụp ảnh bằng điện thoại trong điều kiện thiếu sáng, bạn phải giữ yên, không thể di chuyển một milimet nào".
Thêm vào đó, giống như các loài động vật thí nghiệm, trẻ sơ sinh không thể thực hiện các nhiệm vụ phức tạp đòi hỏi suy nghĩ và ý chí. Chúng chỉ có thể thực hiện các bài kiểm tra dựa trên bản năng.
Trẻ sơ sinh cũng không thể trả lời các bảng khảo sát sau thí nghiệm, không thể mô tả chúng đã nhìn thấy gì, nghe thấy gì hay nhớ được gì. "Chụp cộng hưởng từ chức năng là phương pháp duy nhất giúp chúng ta biết được những gì đang xảy ra trong tâm trí trẻ sơ sinh, khi chúng ta không thể hỏi chúng những câu hỏi", tiến sĩ Nick giải thích.
"Bạn phải quan sát não bộ của trẻ để có thể tìm ra câu trả lời".

Trong thí nghiệm, 26 trẻ sơ sinh sẽ được quấn chăn và nằm trong máy cộng hưởng từ. Các nhà khoa học sẽ đặt một màn hình bên trong máy để chiếu cho trẻ xem một mẫu hình kính vạn hoa màu xanh lá cây. "Đây là loại màn hình tạo ra ảo giác, giúp trẻ tập trung vào trung tâm của màn hình", tiến sĩ Tristan cho biết.
Khi những đứa trẻ đã tập trung vào điểm nhìn mục tiêu, các nhà khoa học sẽ chiếu một hình ảnh mới mà chúng chưa từng thấy trước đây – có thể là một hẻm núi, một món đồ chơi hoặc khuôn mặt của một người phụ nữ.
Hình ảnh chỉ hiện lên trong 2 giây rồi biến mất. Để kiểm tra xem trẻ có nhớ được hình ảnh này hay không, chúng sẽ được cho nhìn lại sau 1 phút, với một hình ảnh khác tương tự xuất hiện bên cạnh.
Ví dụ, nếu một đứa trẻ ban đầu được cho xem hình ảnh của một hẻm núi trong 2 giây, sau 1 phút, hình ảnh đó sẽ được đặt cạnh một cây cầu.
Nếu đứa trẻ nhận ra hẻm núi mà chúng đã xem, chúng sẽ nhìn lâu hơn vào nó so với cây cầu, chứng tỏ ký ức về hình ảnh đã được hình thành. Ngược lại, nếu trẻ nhìn cả hai hình ảnh hẻm núi và cây cầu với tần suất giống nhau, thì có thể hình ảnh đã không được lưu lại trong trí nhớ.

"Khi trẻ sơ sinh chỉ nhìn thấy một thứ gì đó một lần trước đó, chúng tôi kỳ vọng rằng trẻ sẽ nhìn vào nó lâu hơn khi hình ảnh đó xuất hiện lại", tiến sĩ Nick cho biết.
"Vì thế, trong thử nghiệm này, nếu trẻ sơ sinh nhìn chằm chằm vào hình ảnh quen thuộc hơn hình ảnh mới bên cạnh, điều đó có thể cho thấy trẻ đã nhận ra hình ảnh đó".
Thật vậy, kết quả thí nghiệm trên 26 trẻ sơ sinh cho thấy cả trẻ dưới 12 tháng tuổi và trên 12 tháng tuổi đều có tần suất nhận ra hình ảnh quen thuộc cao hơn so với hình ảnh lạ.
Điều này chứng tỏ rằng ký ức đã bắt đầu hình thành trong não bộ của trẻ.

Khi kết hợp với hình ảnh cộng hưởng từ chức năng, các nhà khoa học nhận thấy rằng hoạt động ở vùng hồi hải mã – nơi lưu trữ ký ức trong não – tăng lên khi trẻ nhìn thấy và nhớ lại hình ảnh.
Tuy nhiên, hoạt động này mạnh mẽ hơn ở trẻ trên 12 tháng tuổi. Những đứa trẻ này còn kích hoạt một khu vực não khác gọi là vỏ não trán ổ mắt, liên quan đến việc ra quyết định và nhận dạng ký ức.
"Chúng tôi có thể rút ra kết luận rằng vùng hồi hải mã đã bắt đầu mã hóa ký ức cá nhân ngay từ giai đoạn sơ sinh", tiến sĩ Tristan cho biết. Hiệu ứng này xuất hiện từ khi trẻ chỉ mới 4 tháng tuổi, điều này phá vỡ giả thuyết 3 năm mà các nghiên cứu trước đây cho rằng trẻ không thể hình thành ký ức.
Vì nghiên cứu chỉ tuyển dụng trẻ nhỏ nhất là 4 tháng tuổi, các nhà khoa học nghi ngờ rằng hiệu ứng này có thể xảy ra sớm hơn, nếu những đứa trẻ ít tuổi hơn được tham gia vào thí nghiệm.
"Nghiên cứu này cho kết quả rất phù hợp với các bằng chứng trước đó trên động vật, cho thấy chứng mất trí nhớ ở trẻ sơ sinh là một vấn đề liên quan đến truy xuất ký ức", tiến sĩ Nick cho biết.
Điều này có nghĩa là trẻ sơ sinh vẫn có thể hình thành và lưu trữ ký ức, nhưng vấn đề là chúng không thể truy xuất lại những ký ức đó do một sự cố trong quá trình truy xuất của não bộ.

"Chúng tôi đang nghiên cứu để theo dõi độ bền của ký ức ở vùng hồi hải mã trong suốt thời thơ ấu, và thậm chí đang tiến gần tới một ý tưởng táo bạo, gần như khoa học viễn tưởng, rằng những ký ức đó vẫn tồn tại dưới một hình thức nào đó cho đến khi chúng ta trưởng thành, chỉ là chúng ta chưa thể tiếp cận được chúng", tiến sĩ Nick nói.
Nếu điều này là đúng, nghiên cứu này sẽ mở ra một cơ hội để các nhà khoa học có thể khám phá cách khôi phục lại những ký ức từ thời sơ sinh của mỗi người, khi chúng vẫn được lưu trữ hoặc mã hóa ở một vùng nào đó trong hồi hải mã.
Vấn đề còn lại là tìm cách để tiếp cận lại chúng.

Tham vọng của các nhà khoa học tại Đại học Yale không phải là không có cơ sở. Trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí Current Biology, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Toronto đã chứng minh rằng họ có thể giúp chuột trưởng thành khôi phục ký ức thời thơ ấu mà chúng từng quên.
Đầu tiên, họ cho những con chuột sơ sinh mới 17 ngày tuổi vào một chiếc lồng gọi là buồng điều hòa sợ hãi. Đây là một chiếc lồng acrylic trong suốt, nhưng có sàn kim loại để phát ra những cú chích điện vào cơ thể chuột.
Những con chuột sơ sinh bị đưa vào lồng và phải chịu những cú chích điện kéo dài 2 giây, lặp đi lặp lại mỗi 2 phút, để tạo ra ký ức sợ hãi – loại ký ức bản năng này sẽ được ghi nhớ sâu sắc nhất trong não bộ.

Trong suốt quá trình này, các nhà khoa học quan sát các tế bào thần kinh ở vùng hồi hải mã của chuột bị kích hoạt, rồi đánh dấu chúng bằng Channelrhodopsin-2 (ChR2), một loại protein nhạy sáng sẽ phát sáng khi tế bào thần kinh hoạt động.
Sau khi ghi lại thông tin, chuột sẽ được thả về lồng nuôi bình thường. Các nhà khoa học đợi đến khi chuột lớn lên, khoảng 90 ngày sau, rồi bắt chúng và đưa lại vào buồng điều hòa sợ hãi một lần nữa.
Dựa trên quan sát hành vi và sự không kích hoạt lại của các nhóm tế bào thần kinh đã được đánh dấu, các nhà khoa học nhận thấy lũ chuột đã hoàn toàn quên đi nỗi sợ hãi khi chúng bước vào căn phòng mà chúng đã bị điện giật vào ngày thứ 17.
Tuy nhiên, khi các nhà nghiên cứu dùng ánh sáng laser để kích hoạt lại những tế bào thần kinh đã được đánh dấu trước đó bằng ChR2, một điều bất ngờ đã xảy ra: lũ chuột bỗng nhiên nhớ lại ký ức thời thơ ấu của chúng.
Chúng bắt đầu đứng im và run rẩy trong buồng điều hòa sợ hãi, mặc dù các nhà khoa học chưa bật công tắc điện.
Về nguyên lý, thí nghiệm của các nhà khoa học Toronto đã chứng minh rằng chứng mất trí nhớ thời thơ ấu là một vấn đề do lỗi truy xuất chứ không phải do sự lưu trữ ký ức.
Nếu đúng vậy, họ có thể phục hồi ký ức của chuột – và có thể là của cả con người – bằng cách tái kích hoạt các tế bào thần kinh đã lưu trữ ký ức trong hồi hải mã.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu chúng ta có nên làm điều này hay không?

Những con chuột chắc chắn không muốn nhớ lại những cú điện giật khi chúng mới 17 ngày tuổi. Và có thể con người cũng vậy. Không phải ai cũng có một tuổi thơ ngập tràn những kỷ niệm hạnh phúc.
Khi bạn hồi tưởng lại nụ cười đầu tiên, bạn cũng sẽ phải đối mặt với ký ức về tiếng khóc đầu đời. Khi nhớ lại khuôn mặt của một người thân đã khuất, bạn cũng không thể tránh khỏi việc tham dự đám tang của người đó.
Mỗi ký ức hạnh phúc từ thuở nhỏ sẽ luôn đi kèm với không chỉ một, mà có thể là rất nhiều ký ức đau buồn.
Sigmund Freud, nhà thần kinh học nổi tiếng người Áo, vì thế đã cho rằng chứng mất trí thời thơ ấu là một cơ chế giúp trẻ lớn lên mà không phải sống lại những sang chấn của tuổi thơ.
Trên thực tế, con người là loài có tuổi thơ dài nhất, dễ tổn thương và phụ thuộc vào người khác nhiều nhất so với tất cả các loài động vật. Một con ngựa có thể đứng dậy và chạy trốn ngay sau khi sinh, trong khi con người phải mất 10-14 tháng mới có thể tự đứng vững.
Một con sói chỉ mất 6 tuần để cai sữa và trưởng thành trong vòng 2 năm. Còn con người phải đợi đến 2 tuổi mới cai sữa và chỉ được xem là trưởng thành khi bước vào tuổi 18.
Sự phụ thuộc kéo dài và khả năng độc lập muộn màng của loài người khiến tuổi thơ của chúng ta dễ chứa đựng nhiều ký ức cần quên hơn là những ký ức đáng nhớ.

Chẳng hạn như với Arthur, vị đạo diễn 31 tuổi gốc Việt đang tìm mẹ, việc nhớ lại người mẹ và những kỷ niệm trong 4 ngày đầu đời cũng đồng nghĩa với việc nhớ lại cả những tháng ngày dài đằng đẵng bị bỏ rơi sau đó.
Về lý trí, chàng trai người Pháp cho biết anh sẽ sẵn sàng chấp nhận. "Tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ đến việc mình sẽ nói gì nếu gặp mẹ. Nếu có dịp gặp bà, có lẽ điều đầu tiên tôi muốn nói là: 'Cảm ơn!' Tôi cũng là người khá xúc động, vì vậy có thể tôi sẽ khóc," anh chia sẻ.
Tuy nhiên, trong sâu thẳm lòng mình, Arthur vẫn mang một nỗi ám ảnh: "Là đứa trẻ phải xa mẹ ngay từ khi mới sinh, tôi mang trong mình nỗi sợ bị bỏ rơi một lần nữa."
***
Cập nhật: Vào cuối tháng 4, ngay sau khi câu chuyện của Arthur được chia sẻ rộng rãi trên báo chí và mạng xã hội, một người phụ nữ tên Nguyễn Thị Hợi đã xuất hiện, với thông tin gần trùng khớp với giấy khai sinh của Arthur, tự nhận là mẹ của anh.
Bà Hợi, sinh năm 1960, quê ở xã Dương Quang, huyện Gia Lâm, Hà Nội, nằm ngay bên cạnh xã Dương Xá, cho biết: "Rất có thể đó là con trai tôi".

(Ảnh: Hà Trang, báo Dân Trí).
"Khi đó, tôi chưa có chồng, làm nông, cuộc sống khó khăn. Khi cho con làm con nuôi, tôi chỉ hy vọng cháu sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn, được học hành đàng hoàng. Nếu ở với tôi, cháu chắc chắn sẽ khổ. Nhiều năm qua, tôi vẫn không nguôi ngoai với quyết định này."
"Tôi đã từng mong muốn tìm lại con, nhưng với những thông tin ít ỏi trong tay, tôi cảm thấy như đang mò kim đáy bể. Hơn nữa, tôi cũng sợ sẽ làm ảnh hưởng đến cuộc sống của con, nghĩ rằng con sẽ khổ vì mình."
Ở tuổi già, khi nhìn thấy người có thông tin trùng khớp với con trai mình, tôi vô cùng xúc động. Được đoàn tụ với con là niềm hạnh phúc lớn nhất của tôi lúc này. Nếu con không nhận mình, tôi cũng chấp nhận, chỉ mong con khỏe mạnh", bà Hợi tâm sự.

Về phần mình, Arthur cho biết anh sẽ gửi mẫu tóc về Việt Nam để xét nghiệm DNA xác nhận thông tin của bà Hợi. "Tôi hy vọng kết quả sẽ tốt đẹp", anh nói.
Dù kết quả có thế nào, anh vẫn phải quay lại Việt Nam:
"Tôi đã chờ đợi cả đời để thực hiện chuyến đi này. Tôi không muốn về Việt Nam chỉ để du lịch một, hai tuần rồi quay lại. Tôi muốn ở lại đủ lâu để thực sự sống ở đó, hiểu cách mọi người sinh hoạt, suy nghĩ và yêu thương nhau."
