Trong các triều đại phong kiến, Tết không chỉ mang ý nghĩa tôn vinh quyền lực mà còn thể hiện các phong tục văn hóa đặc trưng của người Việt.
Triều đại Lê
Vào thời vua Lê Thái Tông, sử sách ghi lại rằng: "Vào mùng 1 Tết Nguyên đán năm Giáp Dần (1434), vua dẫn các quan đến dâng lễ tại Thái miếu”. Năm tiếp theo, vào dịp Tết năm Ất Mão (1435), vua Lê Thái Tông đã cho phép trăm quan được tổ chức tiệc Tết trong suốt năm ngày. Đến thời vua Lê Nhân Tông, vào mùng 3 Tết năm Bính Tý (1456), nhà vua cũng tổ chức yến tiệc cho các quan, bao gồm cả tôn thất tham gia".
Một nghi lễ quan trọng trong triều đại là lễ cúng tổ tiên, bắt nguồn từ truyền thống tôn kính ông bà tổ tiên của người Việt.

Văn hóa đón Tết trong cung đình. (Ảnh minh họa).
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vua Lê Nhân Tông từng đích thân dẫn trăm quan đi dâng lễ tại Sơn Lăng và ra lệnh cho quan coi lăng ở Lam Sơn rằng: "Mọi công việc ở đền thờ phải được thực hiện một cách tôn kính và thanh sạch như việc ngả cây, chặt tre, hay kiếm củi..." . Mùa xuân cũng là thời điểm các vua Lê tiến hành các lễ cúng cho các vị tiên vương.
Tuy nhiên, trong thời kỳ chiến tranh, việc đón Tết của nhà vua cũng có sự khác biệt. Vào năm Tân Mão, niên hiệu Hồng Đức năm thứ hai (1471), triều Lê Thánh Tông, khi vua đem quân đánh Chiêm Thành, cuối tháng Chạp dừng quân tại Thuận Hóa, vua quyết định để quân nghỉ Tết tại đây. Đến ngày mùng 2 Tết, khi quân chuẩn bị vào đất địch, vua ra lệnh cho quân Thuận Hóa ra biển luyện tập thủy chiến.
Triều đại Lý
Thời Lý, sử sách ghi lại không nhiều, nhưng vẫn có thể hình dung một số nghi thức chính trong những ngày Tết như sau: Tối 30, vua thăm Thái hậu, rồi về cung mời các tăng đồ tổ chức lễ tống trừ ma quỷ.
Vào thời khắc giao thừa, mọi gia đình thường chuẩn bị mâm cỗ cúng trời đất ngoài sân và đốt pháo trước cổng để xua đuổi tà ma, đón chào năm mới. Vào sáng mồng Một, vua ngự ở cung Vĩnh Thọ tiếp Thái tử và bá quan đến chúc mừng. Sau đó, vua đến cung Trường Xuân để cúng tổ tiên, rồi đến cung Thiên An ban yến. Vào ngày mồng 2, bá quan cúng gia tiên và thăm hỏi nhau. Ngày mồng 3, vua ngự lầu cửa Nam, xem hoàng tử và quan thái giám ném tú cầu.
Trong dịp Tết, các vua triều Lý còn có tục đi cày tịch điền. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: "Năm 1030, Lý Thái Tông cày tịch điền ở Bố Hải Khẩu (nay thuộc Thái Bình). Năm 1032, vua lại ra cày ở Đỗ Động Giang. Năm 1038, vua tiếp tục cày ruộng tịch điền tại cửa Bố Hải và chủ trì lễ tế Thần Nông. Năm 1148, vua Lý Anh Tông lại đến hành cung Ly Nhân để cày tịch điền".
Tục cày tịch điền đã được thực hiện từ thời vua Lê Đại Hành, vào năm 987, lần đầu tiên vua cày tịch điền tại Núi Đọi (Hà Nam).
Triều đại Trần
Cuốn An Nam chí lược ghi lại chi tiết về cách vương triều Trần đón Tết như sau:
“Vào ngày 30 Tết, vua ngồi giữa cửa Đoan Củng, các quan lại làm lễ. Sau đó, mọi người cùng xem các điệu múa hát đa dạng. Vào buổi tối, vua qua cung Động Nhân để bái yết các tiên vương. Đêm hôm đó, các thầy tu vào cung làm lễ Khu Na để xua đuổi ma quái. Vào sáng mùng Một, khi canh năm, vua ngự trên điện Vĩnh Thọ, các tôn tử và quan cận thần làm lễ trước, rồi vua vào cung Trường Xuân để vọng bái các lăng tổ tiên.”
Sáng sớm, vua ngự trên điện Thiên An, các phi tần ngồi theo trật tự, còn các quan trong nội cung đứng lộn xộn trước điện, cùng thổi nhạc lễ trước đại đình. Con cháu và bề tôi xếp hàng bái lễ ba lần, sau đó dâng rượu lên vua. Khi xong, các tôn tử vào điện chầu và dự tiệc. Các quan trong cung ngồi tiểu điện phía tây, còn quan ngoại thần ngồi hai bên tả hữu vua, thưởng thức tiệc và dần dần rời đi vào buổi trưa. Vào ngày mồng hai Tết, các quan làm lễ riêng tại nhà.”
Vào ngày mồng ba Tết, vua ngự trên gác Đại Hưng, xem các tôn tử và các quan trong cung thi ném quả bóng (quả cầu thêu), và ai bắt được mà không làm rơi xuống đất thì sẽ thắng. Quả bóng được làm từ vải gấm, kích cỡ tương đương nắm tay trẻ con, có tua dài khoảng hai mươi sợi.”
Triều Nguyễn

Trong thời Nguyễn, triều đình đã soạn và cấp phát lịch cho các địa phương. Lễ cấp phát lịch, hay còn gọi là lễ Ban sóc, được tổ chức vào mùng 1 tháng Chạp hàng năm, tức là trước Tết một tháng. Việc biên soạn và phát hành lịch được coi là hoạt động văn hóa quan trọng, thể hiện chính sách coi trọng đời sống dân chúng của triều Nguyễn, giúp nhân dân sống hài hòa với thiên nhiên và các yếu tố tự nhiên trong sản xuất.”
Tiếp theo là lễ Phong ấn diễn ra vào ngày 25 tháng Chạp. Đây là nghi lễ đánh dấu việc ngừng công việc triều chính tạm thời để chuẩn bị đón Tết. Trước khi cho vào hòm niêm phong, các kim sách và kim bảo (sách vàng, ấn vàng) được lau chùi cẩn thận, vì thế nghi lễ này còn được gọi là lễ Phất thức.”
Bên cạnh đó, còn có các quy định về nghi lễ Tuế trừ (vào buổi sáng), Trừ tịch (vào buổi tối), bắn pháo, giờ mở cửa thành; các quy định về lễ Thượng tiêu (dựng cây nêu), Hạ tiêu (hạ nêu) phải chọn ngày giờ tốt, do cơ quan Khâm Thiên Giám ban hành.
Vào ngày mồng Một Tết, nhà vua sẽ đến thăm hoàng mẫu và thực hiện nghi lễ chào năm mới với bảy phát pháo. Dịp Tết cũng là lúc các vua Nguyễn ban thưởng cho các quan văn, võ trong triều, theo cấp bậc, với mức thưởng cao nhất là 20 lạng bạc cùng yến tiệc. Nhà vua cũng ra lệnh thưởng lụa và gạo cho những người từ 80 tuổi trở lên.
Đặc biệt, trong thời kỳ nhà Nguyễn, vào dịp Tết, những người phạm tội nhẹ sẽ được hưởng niềm vui lớn khi được về nhà ăn Tết, sau đó sẽ quay lại để tiếp tục chịu án.
