Hải quân Mỹ hiện đang sở hữu một phi đội có biệt danh "Máy bay Ngày tận thế" (Doomsday Planes), bao gồm 16 chiếc E-6B Mercury, phát triển từ Boeing 707-300. Những chiếc máy bay này đóng vai trò là trung tâm chỉ huy và điều hành trên không, giúp liên lạc và kiểm soát trong mọi tình huống khẩn cấp, đặc biệt khi các cơ sở chỉ huy trên mặt đất bị phá hủy do chiến tranh hạt nhân.Máy bay E-6B đã hoạt động suốt hàng chục năm qua và đến lúc cần phải thay thế. Vào tháng 12/2024, Hải quân Mỹ đã ký hợp đồng trị giá gần 3,5 tỷ USD với Northrop Grumman để phát triển thế hệ máy bay "Ngày tận thế" mới.
Lựa chọn của Hải quân là sử dụng máy bay vận tải C-130J-30 của Lockheed Martin làm nền tảng cho thế hệ máy bay mới mang tên E-130J. Loại máy bay này sử dụng 4 động cơ cánh quạt, thay vì động cơ phản lực như E-6B. Dự kiến, 3 chiếc E-130J sẽ được đưa vào sử dụng vào năm 2027, và 6 chiếc nữa sẽ tiếp tục gia nhập phi đội vào năm 2028, thay thế dần đội E-6B.

Máy bay E-6B.

Một trong những tính năng đặc biệt của E-130J là hệ thống liên lạc Tần số cực thấp (VLF), với hai dây ăng-ten kéo dài từ đuôi máy bay và kết nối vào một bộ phễu ở mũi máy bay, giống như vòi tiếp nhiên liệu trên không. Các ăng-ten này được thiết kế để truyền tín hiệu ở tần số cực thấp (từ 3-30 kHz) đến các tàu ngầm đang lặn dưới biển.
Một dây ăng-ten dài 8 km, trong khi dây còn lại dài 1,5 km, cả hai đều được lưu trữ trong máy bay. Khi cần thiết, chúng sẽ được kéo dài từ đuôi máy bay và hạ xuống thẳng đứng về phía mặt nước để thiết lập kết nối VLF với tàu ngầm. Sau khi hoàn tất việc liên lạc, cả hai dây ăng-ten sẽ được thu lại và cất vào trong máy bay.
Do băng thông hạn chế, các thông điệp truyền tải thường đơn giản và định dạng sẵn, được gọi là Thông điệp Hành động Khẩn cấp, yêu cầu tàu ngầm thực hiện các nhiệm vụ tấn công vũ khí hạt nhân. Vì vậy, nếu không xảy ra chiến tranh hạt nhân, Hải quân Mỹ sẽ không cần sử dụng đến chiếc máy bay này.
