
Thực trạng
Tuy nhiên, việc sử dụng các câu hỏi này không thực sự hiệu quả trong việc kiểm tra sự hiểu biết của người học. Điều này là bởi vì, thông thường, người học sẽ có khuynh hướng trả lời “Có” hoặc một cách nói khác nhưng cùng mục đích là xác nhận đã hiểu. Mặc dù xác nhận hiểu bài, nhưng vẫn sẽ có một số người học chưa thực sự hiểu nhưng không xác nhận điều này hoặc họ đang hiểu sai nhưng lại nhầm lẫn là hiểu đúng.
Từ đó, việc sử dụng các câu hỏi này không giúp người dạy có thể nắm được mức độ hiểu biết của học sinh sau khi nghe giảng và sẽ tệ hơn nếu tiếp tục giảng các kiến thức tiếp theo trong khi người học chưa nắm được kiến thức hiện tại.
Để giải quyết được vấn đề này, người dạy cần thay đổi câu hỏi. Các câu hỏi này thường được gọi là Concept checking questions (CCQs).
Khái niệm về CCQs
Đặc biệt, trong bối cảnh giảng dạy ngữ pháp, các câu hỏi này được sử dụng hiệu quả để kiểm tra mức độ hiểu biết của người học về công dụng của đặc điểm ngữ pháp như các thì (tenses).
Phương pháp xây dựng câu hỏi CCQs
Ví dụ: Khi giảng dạy be going to.
“The sky is dark. It is going to rain soon.”
Khi nó câu này, người nói đang thấy bầu trời tối đen nên cho rằng trời sẽ mưa. Do đó, người nói đang đưa ra một dự đoán (trời mưa) dựa trên một bằng chứng (trời tối đen).
→ He is making a prediction.
→ The prediction is about rain coming.
→ He has evidence, which is a dark sky.
Chuyển các câu này thành các câu hỏi CCQs
Is he making a prediction? (Yes)
Is it about rain coming? (Yes)
Does he have any evidence? (Yes - dark)
Những dạng câu hỏi CCQs thường gặp trong giảng dạy

Câu hỏi đóng (Closed questions).
Ví dụ: Khi đang giảng dạy về công dụng của used to “I used to play badminton with friends on weekends.” Câu hỏi CCQ phù hợp: Does he still play badminton with friends on weekends?.
Khi nhận được câu hỏi này, nếu học sinh trả lời No, có nghĩa là họ đã hiểu được chức năng của used to đang nói về việc mà một người đã làm trong quá khứ và đã kết thúc ở hiện tại.
Câu hỏi lựa chọn (Optional questions).
Ví dụ: Khi đang giảng dạy về từ a stuffed animal. Câu hỏi CCQ phù hợp: Is a stuffed animal soft or hard?
Khi nhận được câu hỏi này, nếu học trả lời soft, có nghĩa là họ đã hiểu được tính chất của a stuffed animal là một con thú bông nên sẽ trở nên mềm (soft) thay vì cứng (hard).
Một số lưu ý quan trọng khi áp dụng CCQs trong quá trình giảng dạy
Sử dụng ngôn ngữ phù hợp
Người dạy cần lựa chọn từ vựng phù hợp với trình độ người học khi thực hiện các CCQs bằng tiếng Anh. Nếu người học không hiểu ý nghĩa của các câu hỏi này, người dạy khó đạt được mục đích đề ra.
Ví dụ: Khi dạy về be going to “She is going to travel to Japan next month?”
Không nên hỏi: Is her forthcoming international expedition prearranged?
Nên hỏi: Is she planning a trip? (Yes)

Tránh dùng chính thì đang giảng dạy trong CCQs
Khi thực hiện các câu hỏi CCQs, người dạy tránh sử dụng các thì (tense) mục tiêu có trong câu hỏi. Điều này sẽ gây khó hiểu cho người học vì có thể họ chưa nắm được kiến thức mới (thì mới) nên họ sẽ không hiểu được câu hỏi.
Ví dụ: Khi đang giảng dạy về thì hiện tại hoàn thành “I have worked as a teacher since 2020.”
CCQ không nên dùng: “Has he worked as a teacher for 5 years?”
CCQ nên dùng:
“Did he start working as a teacher in 2000?” (Yes)
“Does he still work as a teacher now?” (Yes)
Áp dụng CCQs vào các tình huống giảng dạy ngữ pháp
Cấu trúc Used to
Nội dung bài học
When I was a child, I used to visit my grandparents every summer. Those trips were always the happiest moments of my year. Now that I’m grown up and living far away, I don’t visit them anymore the way I did in the past. [3] |
Khi thiết kế các câu hỏi CCQs để kiểm tra mức độ hiểu biết của người học cho kiến thức về used to, người dạy trước hết cần tập trung vào công dụng của cụm từ này là đang nói về một thói quen trong quá khứ mà không còn làm ở hiện tại.
He visited his grandparents every summer in the past.
He does not do it now.
Từ đây, ta có thể tách ra làm hai câu hỏi với một câu tập trung vào thói quen trong quá khứ, và một câu tập trung vào việc thói quen này không còn được dạy trong hiện tại.
CCQs gợi ý:
Did he often visit his grandparents every summer in the past? (Yes)
Does he still do it now? (No)
Nếu học sinh trả lời Yes và No lần lượt cho hai câu hỏi trên, ta có thể xác định được rằng họ đã hiểu được used to được dùng để nói về việc thường làm trong quá khứ và không còn làm ở hiện tại.
Nếu học sinh trả lời khác, như No và Yes, ta có thể xác định rằng họ chưa nắm được chính xác công dụng của used to. Lúc này, người dạy cần giảng lại nội dung bài học.
CQQs không tốt
Did he use to visit his grandparents in the past?
Câu hỏi này không tốt vì nó đang sử dụng kiến thức của ngữ pháp mục tiêu để hỏi. Việc này có thể làm học sinh bối rối và trả lời sai.
How many times did he visit his grandparents in the past?
Câu hỏi này không tốt vì nó không tập trung vào công dụng của đặc điểm ngữ pháp mục tiêu. Ngoài ra, trong bài đọc cũng không có thông tin để người học trả lời
Thì hiện tại hoàn thành
Nội dung bài học
Anna has lived in Da Nang for 8 years. She moved there when she was a university student, and she still lives there now.[3] |
Để thiết kế các câu hỏi CCQs hiệu quả cho đặc điểm ngữ pháp này, người dạy trước hết cần xác định rõ các công dụng của ngữ pháp hiện tại hoàn thành, sau đó đưa các công dụng thành các câu hỏi.
Trong ngữ cảnh này, ta có thể phân tích thì hiện tại hoàn thành qua các công dụng sau: (1) Anna đã bắt đầu sống ở Đà Nẵng 8 năm trước, và (2) Anna vẫn còn sống ở Đà Nẵng đến hiện tại.
Anna started living in Da Nang 8 years ago.
She still lives there now.
CCQs hiệu quả:
Did Anna start living in Da Nang 8 years ago? (Yes)
Does she still live there now? (Yes)
Nếu học sinh trả lời Yes cho cả hai câu hỏi này, ta có thể xác định rằng họ đã nắm được một công dụng của thì hiện tại hoành là nói về một hành động đã bắt đầu trong quá khứ và vẫn tiếp đến hiện tại.
Nếu họ trả lời No cho một hoặc cả hai câu hỏi, người dạy cần tiến hành giảng lại nội dung công dụng của thì này.
CCQs không hiệu quả:
Has Anna lived in Da Nang since 2017?
Câu hỏi này không hiệu quả vì nó đang sử dụng chính thì hiện tại hoàn thành để hỏi. Người học có thể sẽ bị bối rối khi gặp phải các câu hỏi này vì có lẽ họ đang chỉ mới bắt đầu học thì này.
When did she move to Da Nang?
Câu hỏi này không hiệu quả vì nó đang hỏi không liên quan đến công dụng của thì hiện tại hoàn thành. Cho dù nếu học sinh có trả lời đúng (a university student) thì người dạy vẫn không có đủ dữ liệu để xác định được mức độ hiểu biết.
Cấu trúc Used to
Nội dung bài học
Before he became a chef, Tom used to work in a construction company. He woke up early every morning, carried heavy materials, and spent long hours at building sites. Now he works in a restaurant, and his daily routine is completely different.[3] |
Trước khi thiết kế các câu hỏi về công dụng của used to, người dạy nên phân tích công dụng của đặc điểm ngữ pháp này. Trong ngữ cảnh này, (1) Tom đã làm cho một công ty xây dựng trong quá khứ, (2) Tom đã hết làm cho công ty xây dựng hiện tại, (3) Tom hiện tại đang làm đầu bếp.
Tom worked for a construction company in the past.
He stopped working for that company.
He works for a restaurant now.
Ta có thể triển khai thành 03 câu hỏi CCQs sau:
Did Tom work for a construction company in the past? (Yes)
Does he stop working for that company now? (Yes)
Where does he work now, a construction company or a restaurant? (restaurant)

Nếu học sinh trả lời được cả 03 câu hỏi này, có thể xác định được họ đã nắm được công dụng của used to khi chúng được dùng để nói về một hành động thường xảy ra trong quá khứ nhưng đã chấm dứt ở thời điểm hiện tại.
Nếu họ trả lời sai một hoặc cả ba câu hỏi, người dạy cần bắt đầu giảng lại công dụng của cụm từ này.
CCQs không tốt:
Did he used to work for a construction company?
Câu hỏi này không tốt vì người dạy đang sử dụng chính đặc điểm ngữ pháp used to để hỏi trong câu hỏi.
Did he like his job in the past?
Câu hỏi này không tốt vì nó không liên quan đến đặc điểm ngữ pháp và cũng không liên quan đến bài đọc.
Phần luyện tập
Bước 1: Xác định nội dung lý thuyết về Overall cho dạng biểu đồ này.
Nội dung lý thuyết
Không trình bày số liệu cụ thể.
Thể hiện xu hướng chính và độ lớn nổi bật của toàn bài.
Có 02 bước chính trong khi viết:
(1) Nhận xét xu hướng chung của số liệu.
(2) Nhận xét số liệu lớn nhất (xuyên suốt các giai đoạn).
Bước 2: Chuyển các thông tin này thành các câu hỏi CCQs.
Ta có được trình bày cụ thể số liệu tăng đến bao nhiêu trong overall không? (Không)
Ta nhận xét xu hướng chính hay tất cả các xu hướng? (Chính)
Ta nhận xét độ lớn nổi bật nhất hay tất cả độ lớn? (Nổi bật nhất)
Ta có bao nhiêu bước khi viết overall, 2 hay 3? (2)
Nhận xét xu hướng chính và độ lớn, nên nhận xét cái nào trước? (Xu hướng chính)
Khi nhận xét số liệu lớn nhất, ta nhận xét từng giai đoạn hay xuyên suốt các giai đoạn? (xuyên suốt)
Phân biệt giữa ICQ và CCQ

Ví dụ:
Khi tổ chức hoạt động đọc hiểu ý chính và giáo viên cần học sinh skim bài học nhanh, không cần cố gắng hiểu từng chữ. Sau khi đưa ra các câu hiệu lệnh, giáo viên có thể hỏi thêm:
Bạn sẽ đọc nhanh hay đọc chậm? (Quickly)
Bạn có cần hiểu toàn bộ mọi từ trong bài đọc không? (No)
Qua bài viết trên có thể nhận thấy CCQs mang lại nhiều lợi ích trong việc kiểm tra mức độ tiếp thu của người học. Giáo viên nên cân nhắc cẩn thận khi xây dựng các câu hỏi này, tránh tạo ra những câu hỏi thiếu phù hợp hoặc chưa chính xác làm giảm hiệu quả đánh giá. Bên cạnh ngữ pháp, CCQs còn phát huy tác dụng trong việc kiểm tra mức độ hiểu từ vựng của người học, đặc biệt trong các lớp học sử dụng tiếng Anh 100%.
Tác giả: Trần Ngọc Minh Luân
