
Bài thi IELTS Writing Task 1 yêu cầu thí sinh miêu tả những thông tin được cung cấp trong biểu đồ, bản đồ, hoặc quy trình cho trước. Các dạng biểu đồ trong Task 1 có thể được chia ra thành 2 nhóm: Biểu đồ động (Dynamic charts) với nhiều hơn một thời điểm – yêu cầu thí sinh miêu tả sự thay đổi của các số liệu qua thời gian, và Biểu đồ tĩnh (Static charts) với một thời điểm duy nhất (hoặc đôi khi không có thời điểm) – nhấn mạnh vào việc so sánh các số liệu trong cùng thời điểm được cho.
Để đạt được điểm số cao trong bài thi (từ 7 trở lên), việc chỉ viết đúng các cấu trúc hoặc miêu tả đúng thông tin là chưa đủ, thí sinh cần phải tạo ra được sự liên kết và mạch lạc trong bài viết. Nói cách khác, một bài viết tốt cần có mạch ý mà người đọc (hay giám khảo) có thể dễ dàng theo dõi và nhận ra được sự kết nối giữa các thông tin.
Bài viết dưới đây giới thiệu đến cho thí sinh những nguyên lý trong việc xây dựng câu chuyện và ứng dụng của chúng trong việc xây dựng đoạn thân bài mạch lạc khi miêu tả các Biểu đồ động trong Writing Task 1.
Mối liên hệ giữa kể chuyện và văn viết học thuật
Điều này dẫn đến việc nhiều bài viết Writing Task 1 chỉ đơn thuần tập trung vào viết đúng cấu trúc, miêu tả đúng số liệu, nhưng bỏ qua việc xây dựng “flow” cho bài viết.
Ví dụ:
Starting at about 17% in 1990, the percentage of people aged 24 to 33 who went to the gym rose rapidly from to nearly 20% in 1994 and later to over 25% in 2010. The figure for those from 18 to 23 years old increased from 15% to about 18% in 1994 before falling to about 16% in 1998. The proportion of people aged 18 to 23 increased again and peaked at 25% in 2006 but then dropped to under 20% in 2010.
Đoạn văn trên dù không có lỗi sai nào về ngữ pháp, tuy nhiên khó có thể giúp bài viết vượt qua band điểm 6. Lý do là vì nội dung giữa các câu thiếu sự liên kết. Người viết chỉ đơn thuần tập trung vào liệt kê sự thay đổi của từng nhóm số liệu và viết đúng các cấu trúc miêu tả tăng – giảm đã được học nhưng không đưa ra được sự so sánh hay tạo được sự kết nối giữa các câu văn. Nói cách khác, ba câu văn trong đoạn văn trên hoàn toàn có thể được tách thành ba câu riêng biệt với ba gạch đầu dòng do hoàn toàn thiếu đi sự liên kết.
Việc tạo mạch liên kết tốt, hoặc cấu thành một câu chuyện tốt, trong một bài viết cũng quan trọng không kém bản thân ý tưởng trong bài viết đó. Trong bài viết ‘Being Scheherazade: the importance of storytelling in academic writing’, Baker and Bonor (2013) đã nhận định rằng “Nếu ta muốn những hiểu biết của mình có tầm ảnh hưởng đến việc nghiên cứu và thực hành quản lý, chúng ta cần chú ý đến nghệ thuật viết và kể chuyện nhiều như khi xác định và trả lời các câu hỏi thú vị” (Nguyên văn: “If we want our insights to influence management research and practice, we need to pay as much attention to the craft of writing and storytelling as we do to identifying and answering interesting questions.”).
Trong IELTS Writing Task 1, thí sinh được yêu cầu miêu tả và tóm tắt số liệu trong một biểu đồ, hoặc miêu tả sự thay đổi về những địa điểm trên một bản đồ, hoặc miêu tả các bước trong một quy trình. Từ band điểm 7 trở lên trong tiêu chí Coherence & Cohesion, thí sinh được yêu cầu đưa ra được “sự tiến triển rõ ràng xuyên suốt bài viết” (a clear progression throughout the response). Điều này đòi hỏi thí sinh không chỉ cần trình bày được các ý tưởng mà còn cần tạo ra một mạch bài viết rõ ràng, mạch lạc. Việc xây dựng bài viết như một câu chuyện sẽ giúp thí sinh đạt được điều này.
Các nguyên tắc cần nắm vững khi kể chuyện
Nguyên lý 1: Tạo ra sự chuyển động (Motion)
Theo Flaherty, một bài viết hay đoạn văn tốt cần tạo ra được sự “chuyển động” đối với người đọc. Để làm được việc này, tác giả đưa ra lời khuyên rằng người viết (writer) nên chia đoạn văn thành 2 phần – action và commentary – một phần đơn thuần trình bày các thông tin và một phần đưa ra những nhận định để tạo ra sự uyển chuyển trong bài viết.
Bên cạnh đó, người viết cũng cần phải lưu ý tránh để cho đoạn văn của mình trở nên quá “ngộp thở” (breathless) bằng cách nhồi nhét vào đó quá nhiều thông tin hoặc hành động (mà đôi khi không cần thiết).
Cuối cùng, người viết cần phải chú ý đến trình tự mà thông tin trong một đoạn văn được trình bày (sequence of things) vì điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến cảm nhận của người đọc.
Nguyên lý 2: Tạo ra phần dẫn nhập (leads) và bối cảnh (settings) rõ ràng.
Tuy nội dung về phần dẫn nhập trong cuốn sách chủ yếu ứng dụng cho việc viết báo thay vì các loại văn bản khác, những nguyên tắc mà Flaherty đưa ra cho việc xây dựng bối cảnh lại vô cùng giá trị kể cả đối văn miêu tả (Task 1) và nghị luận (Task 2).
Theo ông, bối cảnh trong một câu chuyện là cực kỳ cần thiết vì nó cho người đọc biết rằng thông tin trong bài đang diễn ra ở đâu, bao gồm những ai, ở thời điểm nào, …, cũng như tạo nên bầu không khí chung cho câu chuyện và quan trọng nhất là cho họ biết tại sao họ nên đọc nội dung này.
Trong IELTS Writing Task 1, phần bối cảnh có thể nằm ở những vị trí:
Mở bài và Overview.
Câu đầu tiên trong các đoạn body.
Phần tiếp theo của bài viết này sẽ tập trung hoàn toàn vào việc áp dụng hai nguyên lý kể trên trong việc xây dựng đoạn thân bài trong việc miêu tả biểu đồ động (Biểu đồ có sự thay đổi theo thời gian).
Áp dụng kỹ thuật kể chuyện trong Writing Task 1: Mô tả biểu đồ động

Bước 1: Xây dựng bối cảnh.
Đối với những đề bài có từ ba nhóm số liệu trở lên, thí sinh nên chia đều các nhóm số liệu vào hai đoạn thân bài. Ở mỗi đoạn, thí sinh chỉ nên tập trung vào những nhóm số liệu đã chọn. Đối với những đề bài chỉ có hai nhóm số liệu, thí sinh chia đôi khoảng thời gian được cho và miêu tả mỗi phần trong một đoạn body.
Sau đó, ở câu đầu tiên của đoạn văn, hãy xác lập bối cảnh cho đoạn bằng đưa ra sự so sánh các số liệu này ở năm đầu tiên. Mục đích của việc này là để giới thiệu cho người đọc điểm bắt đầu của các nhóm số liệu.
Bước 2: Xây dựng sự chuyển động về thông tin.
Sau khi đã đưa ra bối cảnh là những nhóm số liệu sẽ miêu tả trong đoạn cũng như điểm bắt đầu của chúng, thí sinh tiếp tục dẫn dắt câu chuyện trong đoạn văn bằng cách miêu tả những sự thay đổi tiếp theo của những nhóm số liệu này. Việc xây dựng sự nối tiếp thông tin như vậy sẽ giúp cho người đọc (giám khảo) dễ theo dõi diễn biến thông tin trong đoạn hơn.
Bước 3: Ghép các câu trên thành đoạn văn hoàn chỉnh theo đúng trình tự Bước 1 => 2.
Ví dụ áp dụng:
Ví dụ 1: The chart shows the percentage of European citizens who frequently went to the gym from 1990 to 2010.

Bước 1: Xây dựng bối cảnh.
Các nhóm số liệu sẽ miêu tả trong body 1: 18 – 23 và 24 – 33
Xác lập bối cảnh cho 2 nhóm số liệu: Around 15% of people from 18 to 23 years old went to the gym in 1990, only 1% lower than the percentage of those aged 24 to 33.
Bước 2: Xây dựng sự chuyển động – viết tiếp từ 1 đến 2 câu để miêu tả sự thay đổi của 2 nhóm số liệu đã đề cập ở trước đó: After that, the figure for citizens aged 24 to 33 rose steadily to roughly 26% in 2010. The percentage of 18-to-23-year-olds followed a different pattern, as it fluctuated and peaked at 25% in 2006 before plummeting to about 18% in 2010.
Bước 3: Ghép các câu trên thành đoạn văn hoàn chỉnh.
Around 15% of people from 18 to 23 years old went to the gym in 1990, only 1% lower than the percentage of those aged 24 to 33. After that, the figure for citizens aged 24 to 33 rose steadily to roughly 26% in 2010. The percentage of 18-to-23-year-olds followed a different pattern, as it fluctuated and peaked at 25% in 2006 before plummeting to about 18% in 2010.
Ví dụ 2: The graph below shows the number of shops that closed and the number of new shops that opened in one country between 2011 and 2018.

Bước 1: Xây dựng bối cảnh.
Các nhóm số liệu sẽ miêu tả trong body 1: openings và closures, từ năm 2011 đến 2014.
Xác lập bối cảnh cho 2 nhóm số liệu: Around 8,500 shops were established in 2011, compared to only 6,500 closed.
Bước 2: Xây dựng sự chuyển động – viết tiếp từ 1 đến 2 câu để miêu tả sự thay đổi của 2 nhóm số liệu đã đề cập ở trước đó: However, the number of shop openings was lower in the following years as it plummeted to just 4,000 in 2012 and then recovered to roughly 6,000 two years later. On the other hand, the figure for shop closures only dropped minimally by around 500 in 2012, then rose to 7,000 in 2013, before falling back to 6,500 in 2014.
Bước 3: Ghép các câu trên thành đoạn văn hoàn chỉnh.
Around 8,500 shops were established in 2011, compared to only 6,500 closed. However, the number of shop openings was lower in the following years as it plummeted to just 4,000 in 2012 and then recovered to roughly 6,000 two years later. On the other hand, the figure for shop closures only dropped minimally by around 500 in 2012, then rose to 7,000 in 2013, before falling back to 6,500 in 2014.
Ví dụ 3: The graph below shows changes in the percentage of households with cars in one European country between 1971 and 2001.

Bước 1: Xây dựng bối cảnh.
Các nhóm số liệu sẽ miêu tả trong body 1: No car và Two or more cars
Xác lập bối cảnh cho 2 nhóm số liệu: Around 47% of households in the researched country had no car in 1971, compared to only more than 15% having two or more cars.
Bước 2: Tạo sự chuyển động – viết thêm 1 đến 2 câu mô tả sự thay đổi của 2 nhóm dữ liệu đã nêu trước đó: Sau đó, tỷ lệ những hộ không có ô tô giảm dần qua các năm, đạt dưới 30% vào năm 2001. Tỷ lệ hộ gia đình có hai xe trở lên lại theo một xu hướng khác: tăng mạnh lên khoảng 28% vào năm 1981, giảm xuống khoảng 20% vào năm 1991, và tăng trở lại lên 28% vào năm 2001.
Bước 3: Kết hợp các câu trên thành một đoạn văn hoàn chỉnh.
Khoảng 47% hộ gia đình tại quốc gia được nghiên cứu không có ô tô vào năm 1971, trong khi chỉ hơn 15% sở hữu hai xe trở lên. Sau đó, tỷ lệ những hộ không có ô tô giảm dần qua các năm, đạt dưới 30% vào năm 2001. Tỷ lệ hộ gia đình có hai xe trở lên lại theo một xu hướng khác: tăng mạnh lên khoảng 28% vào năm 1981, giảm xuống khoảng 20% vào năm 1991, và tăng trở lại lên 28% vào năm 2001.
