
Ảnh hưởng của tâm lý lo lắng trong quá trình thực hiện bài thi nghe
Hơn nữa, ông cho rằng còn nhiều thiếu sót trong những nghiên cứu về chứng lo âu trong quá trình học tập, đặc biệt là chứng lo âu trong quá trình nghe hiểu ngôn ngữ thứ hai. Tác động của tâm lý lo âu bao gồm:
Facilitating anxiety ( loại lo lắng có ích lợi trong việc học tập): Với mức độ vừa phải, tâm lý lo lắng có thể trở thành một loại động lực giúp nâng cao hiệu quả công việc. Trong trường hợp này, thí sinh có thể không cảm nhận được sự hiện diện của nỗi lo lắng này vì vốn nó không gây sự căng thẳng. Do đó, người học có thể có sự tập trung cao độ trong quá trình làm bài.
Debilitating or inhibiting anxiety (loại lo lắng gây suy nhược hoặc ức chế): Loại lo lắng này có thể gây suy nhược , là rào cản trong quá trình học ngôn ngữ. Do đó, hiệu suất học tập của thí sinh bị ảnh hưởng tiêu cực, động lực học tập bị giảm sút, thái độ và niềm tin vào bản thân trở nên tiêu cực. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc nâng cao khả năng học ngoại ngữ.
Những nguyên nhân dẫn đến tâm lý lo âu trong quá trình nghe hiểu tiếng Anh
Trong đó, kiến thức ngôn ngữ gồm ngữ pháp, từ vựng. Ngoài ra, việc nghe vào chủ đề không quen thuộc, tốc độ của người nói và giới hạn về thời gian cũng là những rào cản.
Tốc độ nói của người trình bày
Nhiều học giả cho rằng một trong những khía cạnh chính của sự lo lắng khi nghe là tốc độ nói. Khi người nói càng nhanh, sự lo lắng càng cao hơn. Điều này là bởi trong hoạt động nghe, thí sinh cần xử lý lời nói và thông tin của người nói cùng một lúc.
Do đó, với những trường hợp chưa vững về kiến thức ngữ pháp, việc nghe với tốc độ nói bình thường cũng sẽ thành có vẻ quá nhanh với họ. Họ không thể nắm bắt được lời nói, thông tin từ người nói, do đó, họ sẽ có tâm lý lo âu.
Những từ vựng không quen thuộc
Điều cơ bản nhất trong việc học ngoại ngữ là từ vựng vì người học không thể học ngoại ngữ mà không biết từ vựng của ngôn ngữ đó. Do đó, việc biết nhiều từ vựng giúp người học dễ dàng cải thiện được cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Hamouda (2013) cho rằng việc thiếu từ vựng cản trở việc học ngoại ngữ của người học, và dẫn đến cảm giác lo lắng nghe nghe hiểu. Khi gặp từ vựng chưa biết hoặc không quen thuộc, người học thường dừng lại một lúc để suy nghĩ về nghĩa của từ đó. Điều này khiến người học bỏ lỡ mất phần thông tin tiếp theo, và cuối cùng là không nắm được thông tin chính trong bài nghe.
Accent (kiểu giọng) của người sử dụng lời nói
Có nhiều kiểu giọng (accent) tiếng Anh trên thế giới và một số điểm khác nhau có thể dẫn tới sự hiểu nhầm khi nghe. Hơn nữa, việc hiểu được cách nói chuyện của người nói bằng một số accent nhất định lại không phải chuyện dễ dàng.
Lý do là vì người học thường quen với một kiểu accent mà mình nghe chủ yếu. Theo Agustiana (2018) và Gonen (2009), accent không quen sẽ gây tâm lý lo lắng trong quá trình nghe.
Một thí nghiệm được tiến hành trong một lớp Nghe cơ bản, bài giảng được sử dụng các giọng/phương ngữ khác nhau của người nói tiếng Anh như Anh, Ấn Độ, Nhật Bản, Ả Rập và một số phương ngữ khác.
Các sinh viên học trong lớp nghe đó sau khi được phỏng vấn đã trả lời rằng họ không nghe được rõ ràng bởi họ cảm thấy thoải mái và dễ nghe hơn khi nghe giọng Anh Mỹ. Họ đã nghe giọng Mỹ trên phim, thiết bị âm thanh nhiều hơn các accent khác.
Sự hạn chế trong khả năng duy trì tập trung
Theo một số nghiên cứu, một trong những nguyên nhân khiến người nghe lo lắng là thiếu tập trung. Mất tập trung đặc biệt xảy ra khi thí sinh phải nghe đoạn hội thoại dài. Agustiana (2018) phát hiện ra rằng sự tập trung là yếu tố cao nhất gây ra sự lo lắng khi nghe.
Trong cấu trúc bài thi nghe IELTS, thí sinh chỉ được nghe một lần nên cần sự tập trung cao độ và liên tục. Lý do là vì nghe là một quá trình phức tạp, cần sự tập trung của người nghe để xây dựng khả năng diễn đạt trong đầu về lời nói mà họ nghe.
Trong khi đó, chỉ cần một sự phân tâm nhỏ thôi cũng đủ để làm xáo trộn khả năng nghe hiểu. Vì vậy, nếu thí sinh không thể tập trung, rất có thể bài thi nghe ấy sẽ đạt kết quả không cao.
Giải pháp kiểm soát tâm lý lo âu khi nghe hiểu tiếng Anh
Phương pháp nâng cao khả năng tập trung trong quá trình nghe
Attentional space được hiểu là gì?
Theo cuốn sách Hyperfocus của Chris Bailey, con người thông thường có một mức độ giới hạn những thứ có thể tập trung vào. Trong khi bộ não của con người tiếp nhận được mười triệu bit thông tin dưới dạng trải nghiệm giác quan mỗi giây, chúng ta chỉ có thể xử lí và tập trung một cách có ý thức vào 40 bit mà thôi. Hơn nữa, sau khi tập trung vào một thứ gì đó, con người thường chỉ có thể ghi nhớ được một lượng rất nhỏ thông tin trong trí nhớ ngắn hạn.
Vì điều này, việc nghe hiểu tiếng Anh – cái mà cần mức độ tập trung cao độ trong thời gian dài là điều không hề dễ dàng và cần phương pháp để luyện tập.
“Attentional space – giới hạn tập trung” là mức độ giới hạn của một người có thể tập trung và xử lí các công việc trong một khoảng thời gian. Khi chúng ta lựa chọn công việc gì để tập trung vào, “attentional space” sẽ cho phép thông tin được tiếp nhận vào vùng trí nhớ ngắn hạn và não bộ có thể hoạt động một cách hiệu quả.
Vì giới hạn tập trung của con người thường nhỏ và chỉ có thể chứa một vài thứ cùng lúc nên người học cần quản lí giới hạn tập trung của mình hiệu quả. Ngay cả khi người học không thực sự tập trung vào điều gì, giới hạn tập trung của họ cũng bị lấp đầy bởi những công việc mơ hồ.
Ví dụ, khi chúng ta tập trung vào cuộc trò chuyện với bạn bè, thì cuộc trò chuyện đó sẽ chiếm toàn bộ vùng không gian tập trung của người đó. Khi một người vừa nấu bữa tối và vừa phát trực tuyến video, cả hai nhiệm vụ này cũng lấp đầy khoảng không gian tập trung. Do vậy, không gian tập trung chứa đựng mọi thứ mà một người đang nhận thức được, và đó là toàn bộ thế giới ý thức của người đó.
Cách chọn loại công việc phù hợp trong phạm vi giới hạn tập trung
Tùy thuộc vào mức độ phức tạp mà từng loại công việc sẽ chiếm khoảng khoảng không gian lớn hay nhỏ trong giới hạn tập trung. Tham gia một tiết học, viết một bài văn hoặc nói chuyện nghiêm túc với ai đó là những loại công việc đòi hỏi nhiều không gian tập trung.
Ngược lại, nhiều loại công việc không cần quá nhiều không gian tập trung, đó là những loại công việc có mức độ phức tạp thấp. Nói cách khác, đây chính là những thói quen có thể xử lý mà dường như không cần quá nhiều suy nghĩ. Cụ thể là chúng ta có thể vừa đi bộ, hít thở, nhai kẹo cao su và vừa nghe audio book cùng một lúc mà vẫn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Với lý do này, theo các chuyên gia, người học thường không thể làm nhiều nhiệm vụ cùng lúc nếu những công việc đó đều có mức độ phức tạp cao và đòi hỏi nhiều không gian tập trung.
Ví dụ, khi thí sinh làm bài thi IELTS Listening, việc vừa phải đọc và phân tích câu hỏi, ghi nhớ các đáp án, vừa nghe thông tin, phân tích thông tin đã được paraphrase là điều khá khó khăn. Lý do là vì những công việc này đều có mức độ phức tạp cao, đòi hỏi nhiều không gian tập trung trong khi không gian tập trung của hầu hết chúng ta đều có giới hạn.
Việc thí sinh cố gắng làm các nhiệm vụ này trong một lúc lại càng làm kết quả bài thi trở nên kém hơn vì không gian tập trung thí sinh có không đủ để giúp thí sinh tập trung vào hết các nhiệm vụ.


Do đó, thí sinh có thể sắp xếp lại các nhiệm vụ phù hợp với không gian tập trung trong quá trình làm bài IELTS Listening như sau:
Làm một công việc đòi hỏi sự tập trung cao và một công việc không đòi hỏi quá nhiều sự tập trung
Làm một công việc có độ phức tạp cao nhất và quan trọng nhất
Phương pháp Hyperfocus và việc áp dụng vào quá trình luyện nghe cũng như làm bài thi nghe tiếng Anh
Phương pháp Hyperfocus được hiểu là gì
Cho dù multitasking là có thể làm được, việc thay đổi sự tập trung từ nhiệm vụ này sang nhiệm vụ kia làm giảm khả năng tiếp nhận thông tin vào não bộ và giảm hiệu quả năng suất của người học. Nghiên cứu chỉ ra rằng, khi người học càng tập trung cao vào nhiệm vụ gì thì sẽ càng mất nhiều thời gian để chuyển sự tập trung vào việc khác.
Do đó, để đạt hiệu quả tối đa khi làm bất cứ công việc gì, người học nên dành toàn bộ sự tập trung cho một công việc duy nhất (hyperfocus). Với phương pháp hyperfocus, người học thậm chí còn cảm thấy thư giãn khi thực hiện công việc, vì vậy mà có thể tiếp nhận được nhiều thông tin trong khoảng thời gian ngắn.
Phương pháp hyperfocus là việc lựa chọn một loại công việc làm trong một khoảng thời gian để mang lại hiệu quả cao nhất. Có 4 bước để thực hiện như sau:
B1: Lựa chọn một công việc quan trọng để tập trung vào
B2: Loại bỏ những thứ gây nhiễu bên ngoài môi trường và bên trong của người học
B3: Chú ý vào công việc đã lựa chọn và liên tục chủ động điều chỉnh sự tập trung của người học vào trọng tâm công việc ấy.
Nghiên cứu chỉ ra rằng não bộ của con người thường mất tập trung khoảng 47% trên một ngày. Nói cách khác, nếu một người làm công việc 18 giờ một ngày thì họ chỉ thực sự tập trung vào công việc đó trong 8 tiếng hiệu quả mà thôi. Do đó, người học cần điều chỉnh sự tập trung liên tục trong những lúc não bộ đang đi lang thang sang những việc khác.
Áp dụng phương pháp Hyperfocus trong quá trình luyện nghe và thực hiện bài thi nghe tiếng Anh
Trong phần này, tác giả đưa ra một ví dụ cụ thể để phân tích phương pháp hyperfocus vào một dạng bài trong đề thi IELTS Listening dạng Multiple Choice. Với dạng bài Multiple Choice, thí sinh chỉ có 30 giây để nhìn qua câu hỏi, một lần nghe duy nhất và phải lựa chọn đáp án đúng. Bài nói của dạng Multiple Choice thường khá dài, nhiều thông tin gây nhiễu, các từ vựng đều đã được paraphrase. Do đó, việc vừa tiếp nhận thông tin, người học còn phải xử lí thông tin đó và so sánh với đáp án.
Điều này nghĩa là việc làm bài nghe theo cách này khiến não bộ phải xử lí nhiều nhiệm vụ phức tạp cùng một lúc. Trong hầu hết các trường hợp có trí nhớ ngắn hạn không tốt, thí sinh thường bị mất điểm trong phần bài Multiple Choice.
Để có thể làm tốt dạng bài này, người học cần thay đổi sự tập trung của mình. Thay vì tập trung vào nhiều nhiệm vụ một lúc trong quá trình nghe, người học cần lựa chọn 1 nhiệm vụ quan trọng nhất và làm thật tốt nhiệm vụ đó.
Trong các nhiệm vụ cần làm trong quá trình thi IELTS Listening, việc nghe và xử lý thông tin là quan trọng nhất. Vì vậy, thí sinh cần ưu tiên sự tập trung của mình vào nhiệm vụ đó.
Cùng xét ví dụ sau:
(1) Before Queen Elizabeth I visited the castle in 1576,
A. repairs were carried out to the guest rooms.
B. a new building was constructed for her.
C. a fire damaged part of the main hall.
(2) In 1982, the castle was sold to
A. the government.
B. the Fenys family.
C. an entertainment company.
(Nguồn : Cambridge IELTS 14, test 2)
Bước 1: Đọc và xác định từ khóa trong câu hỏi
Từ khóa trong câu hỏi có thể là danh từ riêng, con số - chức năng làm dấu hiệu để nhận biết khi nào sẽ nhắc đến. Ngoài ra, từ khóa có thể là những từ giúp người học hiểu được ý nghĩa của câu hỏi. ( chủ ngữ và động từ chính)
Trong câu hỏi 1, các từ khóa đó là Before, Queen Elizabeth I, visited, 1576 => Trước khi Queen Elizabeth I đi thăm tòa lâu đài vào 1576 thì có sự kiện gì xảy ra. Việc đọc và xác định từ khóa cần được làm trong 30 giây đầu trước khi bắt đầu nghe.
Trong câu hỏi 2: từ khóa cần xác định là 1982, castle, sold to => lâu dài được bán cho ai
Bước 2: Nghe và ghi chú thông tin nghe được
Thay vì dành thời gian trong quá trình nghe để đọc và lựa chọn đáp án, người học cần gạt những nhiệm vụ này sang một bên vì đây chính là những thông tin gây nhiễu, cản trở quá trình tiếp nhận thông tin. Thay vào đó, người học cần nghe và ghi chú thật nhanh những thông tin trong bài liên quan đến câu hỏi.
Trong quá trình nghe và ghi chú, người học chú ý chỉ ghi những từ khóa ( chủ ngữ, động từ) và nên sử dụng kí tự, viết tắt để có thể ghi được hết các thông tin cần thiết.
Cùng xét đoạn transcript của bài nghe :
However, when Queen Elizabeth I announced that she was going to visit the castle in 1576 it was beginning to look a bit run down, and it was decided that rather than repair the guest rooms, they’d make a new house for her (Q11) out of wood next to the main hall. She stayed there for four nights and apparently it was very luxurious, but unfortunately it was destroyed a few years later by fire.
In the seventeenth century the castle belonged to the wealthy Fenys family, who enlarged it and made it more comfortable. However, by 1982 the Fenys family could no longer afford to maintain the castle, even though they received government support, and they put it on the market. It was eventually taken over by a company who owned a number of amusement parks (Q12), but when we get there, I think you’ll see that they’ve managed to retain the original atmosphere of the castle.
Câu 1: Khi nghe đến key word “Queen Elizabeth I”, người học bắt đầu ghi chú thông tin. Các từ cần ghi chú như sau:
No repair guest room ( người học có thể viết tắt hoặc sử dụng kí tự để tăng tốc độ ghi chép: 0 repair gst rm)
Make new house -> destroyed later by fire
Câu 2: Khi nghe đến 1982, người học bắt đầu ghi chú thông tin:
Feyns no maintin -> put on market -> taken over by a company
Bước 3: So sánh thông tin ghi chú với đáp án để lựa chọn
Sau khi đã ghi chú được đầy đủ thông tin, người học lúc này có thể dừng lại và so sánh các cụm từ trong đáp án và thông tin đã nghe được. Từ đó có thể lựa chọn được đáp án đúng.
Câu 1: Đáp án đúng là B
Câu 2: Đáp án đúng là C
Một số cách viết tắt có thể sử dụng khi ghi chú
Viết tắt là kĩ năng không thể thiếu trong quá trình ghi chú. Lý do là vì với tốc độ nói tương đối nhanh, nhiều thông tin trong bài nói, người học cho dù có thể nghe hiểu mà không ghi chép kịp thì cũng sẽ bị bỏ qua thông tin quan trọng để trả lời câu hỏi.
Trong khi đó, nhiều thí sinh không có khả năng ghi nhớ tốt thông tin được nghe. Vì vậy, việc ghi chép được đúng thông tin quan trọng là vấn đề cốt lõi để làm đúng được dạng bài listening multiple choice.
Để tăng tốc độ ghi chép, người học nên áp dụng các cách viết trong quá trình nghe. Thông thường có một số cách viết tắt sau:
Viết tắt bằng chữ cái đầu: English -> Eng, Information -> info
Lược bỏ nguyên âm khi rút gọn: page -> pg, people -> ppl, student -> std
Áp dụng kí hiệu:
+ : additionally, => : result in, &: and, …
Dùng dấu phẩy để phân biệt các từ cùng gốc: education-> edu, educational -> edu’l
Những phương pháp khác giúp xử lý tâm lý lo âu khi làm bài nghe
Bên cạnh phương pháp hyperfocus, người học nên chuẩn bị một môi trường học tập yên tĩnh, đồng thời hạn chế sử dụng các thiết bị điện tử dễ gây xao nhãng như điện thoại trong lúc học.
Tiếp theo, người học cần luyện nghe với nhiều kiểu accent tiếng Anh khác nhau. Trong bài thi IELTS Listening, các dạng giọng phổ biến thường xuất hiện như British English, North American English và Southern Hemisphere (Australia, New Zealand, South Africa). Nếu chỉ quen với một accent duy nhất, người học sẽ gặp trở ngại khi tiếp nhận thông tin từ những kiểu giọng khác.
Ngoài ra, người học nên học từ vựng trực tiếp từ phần transcript của các bài luyện nghe, sau đó làm lại chính bài đó sau một khoảng thời gian (khoảng 1 tháng) nhằm kiểm tra mức độ ghi nhớ từ vựng của bản thân.
Cuối cùng, trong quá trình luyện nghe, người học có thể điều chỉnh tốc độ bài nghe từ 0.75x lên 1.0x rồi đến 1.25x để dần hình thành thói quen tiếp nhận tiếng Anh ở tốc độ nhanh. Việc này giúp thí sinh giữ được sự bình tĩnh hơn khi bước vào bài thi thật, do đã quen với tốc độ nghe nhanh trong quá trình ôn luyện tại nhà.
Tác giả: Phạm Thị Thanh Mai
