VOV.VN - Các chuyên gia kinh tế vĩ mô và ngành ô tô cho rằng tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất và lắp ráp ô tô của VinFast đang gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây và có thể vượt qua mốc 80% nếu duy trì đà phát triển này trong tương lai.
Sau hơn 66 năm phát triển kể từ chiếc ô tô đầu tiên, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã có bước tiến lớn từ thập niên 1990 với sự xuất hiện của nhiều nhà máy sản xuất, lắp ráp. Đây cũng chính là động lực để người Việt hướng đến những mục tiêu nội địa hóa ngày càng cao, mong muốn chinh phục những cột mốc giống như các quốc gia sản xuất ô tô hàng đầu.
Trong những năm gần đây, khi tỷ lệ nội địa hóa đạt 40% là mức tiêu chuẩn miễn thuế cho ô tô nhập khẩu trong khu vực Đông Nam Á, đây trở thành mục tiêu của nhiều nhà sản xuất. Tuy nhiên, trong buổi tọa đàm về nội địa hóa ô tô VinFast ngày 12/12, một số chuyên gia kinh tế vĩ mô và ngành ô tô vẫn tin rằng ngành ô tô Việt Nam có thể đạt mức nội địa hóa cao gấp đôi con số này.

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, "hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đều sử dụng các doanh nghiệp phụ trợ mang từ nước ngoài vào, và nhận được các ưu đãi thuế giống như các doanh nghiệp nội địa. Tuy nhiên, điều này khiến cho các ngành phụ trợ trong nước không có cơ hội phát triển, khi doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải chịu mức thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn, ban đầu là 25%, sau đó 22%, rồi 17%, trong khi doanh nghiệp nước ngoài chỉ chịu thuế 10%".
Sau chuyến tham quan nhà máy VinFast, bà cho biết tỷ lệ nội địa hóa 60% của VinFast là hoàn toàn thuyết phục, đồng thời tin rằng con số này có thể vượt qua 80% trong vòng 2 năm tới: "Với mục tiêu đạt tỷ lệ nội địa hóa 84% vào năm 2026, tôi hoàn toàn tin tưởng vào khả năng này vì những gì VinFast đã làm được trong thời gian qua. So với các doanh nghiệp FDI, VinFast đã vượt trội và chỉ sau 7 năm đã đạt được thành công mà các hãng ô tô khác phải mất hàng chục năm mới có thể làm được. Vì vậy, tôi tin rằng cam kết này sẽ được VinFast thực hiện trong 2 năm tới."

Ngành sản xuất ô tô Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều thách thức lớn ảnh hưởng đến việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Những khó khăn chủ yếu đến từ quy mô nhỏ, sức cạnh tranh hạn chế và thiếu sự kết nối trong chuỗi cung ứng giữa các doanh nghiệp trong nước.
GS-TS Lê Anh Tuấn - Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Bách khoa Hà Nội, nhận định rằng số lượng nhà cung ứng ít ỏi hiện nay đã làm giảm giá trị đóng góp cho ngành ô tô Việt Nam: "Trước đây, chỉ có khoảng 300 doanh nghiệp hỗ trợ ngành ô tô với năng lực trung bình và thấp, nên giá trị mang lại cho Việt Nam rất hạn chế. Tôi tin rằng, với sự đầu tư hợp lý, tỷ lệ nội địa hóa và giá trị sản xuất sẽ ngày càng tăng trưởng."

Từ khi VinFast được thành lập vào năm 2017, hãng đã chủ động xây dựng chuỗi cung ứng trong nước, dành hơn 30% diện tích tại khu tổ hợp nhà máy ở Hải Phòng để phát triển khu công nghiệp phụ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng. Đặc biệt, khi chuyển hướng sang sản xuất xe điện, VinFast không chỉ tập trung vào phần cứng mà còn cả phần mềm, nâng cao sự chủ động.
Ông Lê Anh Tuấn nhận định rằng điểm ấn tượng nhất của VinFast chính là tỷ lệ nội địa hóa cao, và ông tin rằng VinFast có thể giúp phát triển một hệ sinh thái lớn hơn cho ngành ô tô tại Việt Nam: "Với sự đồng hành của VinFast, tôi tin rằng sẽ mở ra một tương lai sáng cho ngành ô tô Việt Nam và ngành sản xuất nội địa, thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái ô tô tại Việt Nam."

VinFast đã xây dựng một lộ trình để đạt tỷ lệ nội địa hóa 84% vào năm 2026, thông qua việc sản xuất và cung cấp các chi tiết như ghế xe, dây điện, đèn xe, vành xe, hệ thống phanh và lái, các linh kiện nội thất và ngoại thất, cùng kính và gương. Đặc biệt, việc sản xuất pin điện vào năm 2026 sẽ là bước tiến quan trọng, vì đây là linh kiện phức tạp và có giá trị cao nhất trong một chiếc xe điện.
Để thực hiện kế hoạch này, VinFast đã và đang triển khai các chiến lược hợp tác với đối tác trong nước để tận dụng mạng lưới doanh nghiệp phụ trợ sẵn có, từ đó tối ưu hóa nguồn cung và giảm thiểu nhập khẩu linh kiện. Đồng thời, hãng cũng hợp tác với các công ty chuyên về thiết kế và sản xuất linh kiện phức tạp để chuyển giao công nghệ, và kêu gọi đầu tư FDI từ các đối tác quốc tế.
