1. Bài văn phân tích tác phẩm "Lẽ ghét thương" số 4
Vào cuối thế kỷ XIX, chế độ phong kiến nhà Nguyễn đang trên đà suy tàn, triều chính hỗn loạn. Đây chính là nguồn cảm hứng để các nhà văn, nhà thơ phản ánh hiện thực xã hội, hoàn thành sứ mệnh “người thư ký trung thành của thời đại”. Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ, nhà văn tài ba sống trong giai đoạn đó, đã khéo léo mượn câu chuyện từ Trung Hoa để tái hiện hiện thực xã hội đương thời và bày tỏ quan điểm, tư tưởng của mình qua những vần thơ. Đoạn trích “Lẽ ghét thương” từ truyện “Lục Vân Tiên” (từ câu 473 đến 504) kể về cuộc đối thoại giữa ông Quán và các nho sĩ trẻ, đồng thời thể hiện tình cảm yêu ghét rõ ràng của tác giả.
Ông Quán trong đoạn trích là hình ảnh tiêu biểu của các nhà Nho ẩn dật. Ông bộc lộ suy nghĩ và tình cảm của mình trước những sự việc mà ông chứng kiến. Câu chuyện xoay quanh bốn nho sinh: Bùi Kiệm, Trịnh Hâm, Tử Trực và Lục Vân Tiên. Họ uống rượu, thi thơ trong quán của ông trước khi vào trường thi. Trịnh Hâm và Bùi Kiệm ba hoa, khoác lác nhưng thua cuộc, lại nghi ngờ Lục Vân Tiên và Tử Trực gian lận. Từ sự việc này, ông Quán bàn về lẽ ghét thương trong cuộc đời. Dù là nhân vật phụ, nhưng trong đoạn trích này, ông Quán được xem như người phát ngôn cho tư tưởng của tác giả. Bốn câu thơ đầu là tuyên ngôn về lẽ ghét thương của ông:
“Quán rằng kinh sử đã từng
Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa
Hỏi thời ta phải nói ra
Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”.
Nguyễn Đình Chiểu, một người tài năng, đỗ tú tài từ khi còn trẻ, nhưng số phận đầy bất hạnh khi mẹ mất và bản thân bị mù. Ông trở về quê dạy học và làm thuốc. Những kiến thức sâu rộng về sử sách khiến ông đau lòng trước những sự việc đã qua. Ông nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít giữa ghét và thương. Ông ghét không vì lợi ích cá nhân, mà vì “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”. Ông ghét vì ông thương quá nhiều, vì tấm lòng nhân ái với đồng loại, ghét những kẻ gian tà, ức hiếp người khác. Ghét trong quan niệm của ông Quán cũng là một biểu hiện của thương, một tình thương lớn lao đến mức cực đại.
Bốn câu tiếp theo thể hiện rõ tình cảm yêu ghét của ông Quán:
“Tiên rằng: Trong đục chưa tường
Chẳng hay thương ghét, ghét thương lẽ nào
Quán rằng ghét việc tầm phào
Ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm”.
Khi được Lục Vân Tiên hỏi về lẽ ghét thương, ông Quán thẳng thắn bày tỏ quan điểm. Ông “ghét việc tầm phào” – những việc vô nghĩa, nhảm nhí. Ông “ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm”, với bốn lần từ “ghét” được lặp lại, thể hiện sự căm ghét đến tột cùng. Ông cụ thể hóa việc ghét là ghét ai, ghét những gì và vì sao:
“Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm
...Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân”.
Mỗi cặp câu lục bát nhắc đến những triều đại và sự kiện từ thời nhà Hạ, Thương của Trung Quốc, với điệp cấu trúc “Ghét đời...”. Những điển tích được sử dụng khéo léo, thể hiện tư tưởng “Ý tại ngôn ngoại”. Ông ghét vì một chữ “dân” – tất cả những sự việc trên đều gây tổn hại cho dân. Nguyễn Đình Chiểu, một người yêu nước thương dân, ghét những kẻ phá hoại đời sống nhân dân, đẩy họ vào cảnh lầm than.
Mười bốn câu tiếp theo nói về những người và lý do ông Quán thương:
“Thương là thương đức thánh nhân
... Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân”.
Những nhân vật được nhắc đến đều là những người tài đức nhưng gặp thời thế bất hạnh, không thể cống hiến hết mình cho đất nước. Đó là Khổng Tử, Nhan Uyển, Gia Cát Lượng, Đổng Trọng Thư, Đào Tiềm, Hàn Dũ, và thầy Liêm, Lạc. Tác giả thương cho những người tài đức nhưng không được trọng dụng, đồng thời cũng thương cho chính mình và thời đại mình đang sống.
Đoạn trích “Lẽ ghét thương” với nghệ thuật sử dụng điệp từ, điệp cấu trúc, ngôn ngữ giản dị, gần gũi với đời sống nhân dân, đã thể hiện rõ tình cảm yêu ghét của tác giả. Qua lời ông Quán, Nguyễn Đình Chiểu bày tỏ tấm lòng nhân đạo cao cả, luôn đứng về phía nhân dân. Như Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Nguyễn Đình Chiểu – ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc”.

2. Bài văn phân tích tác phẩm "Lẽ ghét thương" số 5
“Lẽ ghét thương” là tác phẩm thể hiện tâm huyết của Nguyễn Đình Chiểu về nỗi căm ghét và tình thương nhân bản. Trong đoạn trích, có tổng cộng 26 câu, trong đó 10 câu nói về “ghét” và 16 câu nói về “thương”. Điều này cho thấy tình thương được nhấn mạnh gần gấp đôi so với nỗi ghét. Tác giả từng khẳng định: “Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương”. Quả thật, khi đọc 10 câu thơ về “ghét”, ta nhận ra căn nguyên của nỗi ghét chính là lòng thương dân. Ông Quán ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm những điều “tầm phào”, “đa đoan”, “dối trá”, “mê dâm” vì chúng gây rối cho dân, khiến dân phải chịu cảnh lầm than, khổ cực. Trong 10 câu thơ này, có 4 câu nhắc đến từ “dân”, phản ánh nỗi khổ của nhân dân:
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.
Chuông bề dối trá làm dân nhọc nhằn.
Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân.
Để diễn tả sâu sắc nỗi ghét, tác giả sử dụng nghệ thuật điệp từ. Trong 10 câu thơ, có 8 từ “ghét”, riêng câu thứ hai đã xuất hiện 4 từ: “Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”. Nghệ thuật điệp từ tăng cấp giúp thể hiện sắc thái và mức độ của nỗi ghét: từ vị cay đến vị đắng, rồi đến độ sâu thẳm trong tâm hồn. Cái ghét của ông Quán không đơn thuần là ghét mà đã chuyển thành lòng căm thù. Ông căm thù những kẻ gây hại cho hạnh phúc của nhân dân, thể hiện tinh thần nhân dân sâu sắc trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
Đối lập với nỗi ghét là tình thương. Trong 16 câu thơ, ông Quán bày tỏ lòng thương yêu của mình. Mở đầu là tình thương dành cho Khổng Tử, người đã trải qua bao gian nan trong sự nghiệp truyền bá đạo Nho: “Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông”. Tiếp đó, ông thương xót cho Nhan Tử, Gia Cát, Đổng Tử, Nguyên Lượng, Hàn Dũ, Liêm, Lạc – những bậc hiền nhân, quân tử muốn cứu đời, giúp dân nhưng lại gặp bất hạnh, hoặc chết yểu, hoặc không được trọng dụng. Ước nguyện cứu đời, cứu dân của họ đều không thành.
Nếu ở đoạn thơ về “ghét”, tác giả dùng lòng căm thù để thể hiện tình thương dân, thì ở đoạn thơ về “thương”, ông trực tiếp bộc lộ lòng thương yêu với những người tài đức nhưng gặp bất hạnh. Để diễn tả tình cảm này, Nguyễn Đình Chiểu tiếp tục sử dụng nghệ thuật điệp từ. Trong 16 câu thơ, có 9 từ “thương”, mở đầu bằng câu: “Thương là thương đức thánh nhân”. Lòng thương của ông Quán rộng lớn, bao trùm cả những người chết yểu khi chưa hoàn thành sự nghiệp:
“Thương thầy Nhan Tử dở dang,
Ba mươi mốt tuổi tách dàng công danh”,
Ông thương cả những người không gặp thời vận:
Thương ông Gia Cát tài lành,
Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha".
Qua đó, ông Quán bày tỏ sự đồng cảm với số phận cay đắng của con người trước quy luật khắc nghiệt của tạo hóa và xã hội. Đoạn thơ có bố cục chặt chẽ, mạch lạc, với câu mở đầu về “ghét”:
“Quán rằng: Ghét việc tầm phào
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”
Và câu mở đầu về “thương”:
“Thương là thương đức thánh nhân
Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông”.
Đoạn thơ kết thúc bằng câu: “Xem qua kinh sử mấy lần, Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương”. Nghệ thuật điệp từ kết hợp với bố cục chặt chẽ tạo nên giọng điệu vừa nghiêm trang vừa thống thiết, đặc trưng cho phong cách thơ trữ tình của Nguyễn Đình Chiểu.

3. Bài phân tích tác phẩm "Lẽ ghét thương" mẫu số 6
Truyện thơ Lục Vân Tiên được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác vào đầu thập niên 1850, sau khi ông bị mù và trở về quê hương để hành nghề bốc thuốc, chữa bệnh cứu người và dạy học tại miền Lục tỉnh. Tác phẩm xoay quanh cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, ca ngợi tinh thần nhân nghĩa và thể hiện khát vọng về một xã hội lý tưởng, nơi con người đối xử với nhau bằng tình yêu thương và lòng nhân ái.
Thuộc thể loại truyện Nôm bác học nhưng mang đậm yếu tố dân gian, đoạn trích Lẽ ghét thương nằm từ câu 473 đến câu 504 của tác phẩm. Câu chuyện bắt đầu khi Lục Vân Tiên, Vương Tử Trực, Trịnh Hâm và Bùi Kiệm dừng chân tại nhà ông Quán trên đường vào kinh ứng thí. Tại đây, họ cùng nhau thi thố tài năng làm thơ.
Khi Trịnh Hâm và Bùi Kiệm nghi ngờ Vân Tiên và Tử Trực đạo thơ, ông Quán đã thẳng thắn chỉ trích hai người. Sau đó, Vương Tử Trực hỏi ông Quán về kinh sử, và ông đã trả lời bằng đoạn trích Lẽ ghét thương, thể hiện quan điểm của mình về sự yêu ghét trong cuộc đời.
Nhân vật ông Quán là người phụ trợ cho nhân vật chính trên con đường thực hiện nhân nghĩa, mang dáng dấp của một nhà nho ẩn cư nhưng cũng đậm chất Nam Bộ. Ông là người phát ngôn cho tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu, đặc biệt là tư tưởng yêu ghét rõ ràng.
Quan niệm của ông Quán về mối quan hệ giữa ghét và thương được thể hiện qua hai câu thơ: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” và “Nửa phần là ghét nửa phần lại thương”. Ghét và thương là hai mặt của một tình cảm thống nhất, yêu cái tốt thì phải ghét cái xấu, và đây là mối quan hệ không thể tách rời.
Trong đoạn trích, sự yêu thương hướng đến hai đối tượng chính: nhân dân lầm than và những người tài đức nhưng bị vùi dập. Vì yêu thương họ nên ông Quán ghét những kẻ hại dân hại nước, đẩy con người vào cảnh khốn cùng. Mối quan hệ giữa ghét và thương gắn liền với lý tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Đình Chiểu.
Lẽ ghét được ông Quán diễn tả qua những câu thơ:
“Quán rằng: Ghét việc tầm phào
Ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm
Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang
Ghét đời U, Lệ đa đoan
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần
Ghét đời ngũ bá phân vân
Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn
Ghét đời thúc quý phân băng
Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân”.
Hai câu đầu sử dụng điệp từ “ghét” để nhấn mạnh cảm xúc mãnh liệt. Ông ghét những việc vô bổ, có hại cho dân. Tám câu tiếp theo liệt kê cụ thể những đối tượng ông ghét và lý do, từ vua Kiệt, Trụ đến U Vương, Lệ Vương, ngũ bá và thúc quý, tất cả đều là những kẻ gây khổ cho dân.
Lẽ thương được thể hiện qua 14 câu thơ:
“Thương là thương đức thánh nhân
Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông
Thương thầy Nhan Tử dở dang
Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh
Thương ông Gia Cát tài lành
Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha
Thương thầy Đổng Tử cao xa
Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi
Thương người Nguyên Lượng ngùi ngùi
Lỡ bề giúp nước lại lui về cày
Thương ông Hàn Dũ chẳng may
Sớm dâng lời biểu tối đày đi xa
Thương thầy Liêm Lạc đã ra
Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân”.
Giọng điệu nhẹ nhàng, ông Quán thương những bậc hiền tài không gặp thời, từ Khổng Tử, Nhan Tử đến Gia Cát Lượng, Đổng Tử, Nguyên Lượng, Hàn Dũ và Liêm Lạc. Tất cả đều là những người tài đức nhưng bị vùi dập, không được trọng dụng.
Đoạn trích Lẽ ghét thương thể hiện rõ tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Đình Chiểu, qua quan niệm ghét - thương của ông Quán. Với lời thơ thẳng thắn, thể thơ lục bát giản dị, kết hợp yếu tố lịch sử, tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc về tấm lòng nhân nghĩa và tư tưởng nhân đạo của tác giả.

4. Bài phân tích tác phẩm "Lẽ ghét thương" mẫu số 7
Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, một tác phẩm Nôm mang đậm tính dân gian, được viết vào khoảng những năm 1850 khi tác giả đã bị mù. Tác phẩm xoay quanh cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, ca ngợi lý tưởng về một xã hội tốt đẹp, nơi tinh thần nhân nghĩa và tình cảm chân thành, nhân ái giữa con người được đề cao.
Đoạn trích Lẽ ghét thương là cuộc đối thoại giữa ông Quán, một nhân vật phụ nhưng được yêu mến bởi tinh thần yêu ghét rõ ràng, với bốn chàng sĩ tử Lục Vân Tiên, Tử Trực, Bùi Kiệm và Trịnh Hâm trước khi họ bước vào trường thi. Mở đầu đoạn trích, ông Quán bộc bạch:
"Quán rằng: Kinh sử đã từng,
Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa
Hỏi thời ta phải nói ra
Vì chưng hay ghét cũng là hay thương".
Khi Lục Vân Tiên hỏi về quan điểm yêu ghét, ông Quán đã mở đầu bằng những câu thơ này, thể hiện rằng lẽ ghét thương đều bắt nguồn từ kinh sử, khiến người đọc phải suy ngẫm và xót xa. Vân Tiên thẳng thắn đáp lời:
"Tiên rằng: Trong đục chưa tường,
Chẳng hay thương ghét, ghét thương lẽ nào?"
Vân Tiên không ngần ngại bày tỏ sự băn khoăn của mình, rằng nếu chưa hiểu rõ tốt xấu, thì làm sao có thể phân biệt được lẽ ghét thương. Mười câu tiếp theo, ông Quán liệt kê những điều mình ghét:
"Quán rằng: Ghét việc tầm phào
Ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm".
Nếu câu đầu mang sắc thái nhẹ nhàng, thì câu sau lại mạnh mẽ và kiên quyết, như khắc sâu vào tâm khảm. Ông ghét những chuyện vu vơ, tầm phào, và từ lịch sử Trung Quốc, ông liệt kê bốn điều ghét: ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm; ghét đời U, Lệ đa đoan; ghét đời Ngũ bá phân vân; ghét đời thúc quý phân băng. Những triều đại thối nát, khiến dân chúng lầm than, đều là nỗi ghét sâu sắc của ông.
Trong lẽ ghét, ta thấy ẩn chứa tình thương yêu cao cả, đó là lòng yêu nước, thương dân vô tội phải chịu cảnh khốn cùng dưới sự cai trị tàn bạo. Về lẽ thương, ông Quán thương những bậc thánh nhân như Khổng Tử, Nhan Tử, Gia Cát Lượng, Đổng Tử, Nguyên Lượng, Hàn Dũ, và thầy Liêm, Lạc. Ông thương họ vì tài năng và đức độ của họ bị vùi dập, không được trọng dụng.
Kết lại, ông Quán nói:
"Xem qua kinh sử mấy lần
Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương".
Lẽ ghét thương của ông Quán cũng chính là tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu, thể hiện lòng yêu nước thương dân sâu sắc, mong muốn một xã hội công bằng, nơi con người đối xử với nhau bằng tình nghĩa chân thành.

5. Bài văn phân tích tác phẩm "Lẽ ghét thương" số 8
Truyện Lục Vân Tiên là một kiệt tác của văn học Việt Nam thời trung đại, được đông đảo nhân dân, nhất là người dân Nam Bộ yêu mến. Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên tác phẩm này sau năm 1850, khi ông đã mất thị lực, về quê dạy học và chữa bệnh cho dân ở Gia Định. Nội dung tác phẩm dựa trên các mô típ dân gian và truyện trung đại, kết hợp với những sự kiện có thật trong cuộc đời tác giả.
Truyện kể về Lục Vân Tiên, một chàng trai tài năng văn võ toàn diện, trên đường đi thi đã đánh bại bọn cướp, cứu được Kiều Nguyệt Nga, một tiểu thư con nhà quan. Nguyệt Nga nguyện gắn bó với chàng để đền đáp ân tình. Trước kỳ thi, nghe tin mẹ qua đời, Lục Vân Tiên phải về chịu tang, thương khóc mẹ đến mù cả đôi mắt. Trịnh Hâm, kẻ xấu xa vì ghen ghét tài năng, đã lừa đẩy chàng xuống sông.
May mắn, chàng được vợ chồng ông Ngư cứu sống. Khi trở về quê, chàng bị cha con Võ Thể Loan (vợ chưa cưới) phản bội, bỏ rơi trong hang núi nhưng được Thần, Phật cứu giúp. Cuối cùng, mắt chàng sáng lại, thi đỗ Trạng nguyên và được vua cử đi đánh giặc ô Qua.
Nguyệt Nga một lòng chung thủy với Vân Tiên. Khi bị Thái sư ép đi cống nạp cho giặc, nàng nhảy xuống sông tự tử nhưng được cứu sống. Sau đó, nàng bị cha con Bùi Kiệm ép duyên, buộc phải bỏ trốn. Cuối cùng, Vân Tiên thắng trận trở về, tình cờ gặp lại Nguyệt Nga và hai người kết duyên vợ chồng.
Đoạn trích Lẽ ghét thương (từ câu 473 đến 504) kể về cuộc đối thoại giữa ông Quán và các nho sĩ trẻ. Lục Vân Tiên cùng bạn là Vương Tử Trực đi thi, vào quán trọ gặp Trịnh Hâm và Bùi Kiệm. Trịnh Hâm đề nghị bốn người làm thơ để so tài. Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thua cuộc, nghi ngờ Vân Tiên và Vương Tử Trực gian lận. Ông Quán nhân đó bàn về lẽ ghét thương trong cuộc đời.
Đoạn trích thể hiện sự cảm khái của ông Quán trước những kẻ tiểu nhân như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, huênh hoang, khoác lác nhưng bất tài và xấu xa. Đó chính là điều ông Quán ghét. Ông Quán là nhân vật tiêu biểu cho các nhà Nho ẩn dật, như ông Ngư, ông Tiều, lấy nghề nghiệp làm tên. Có thể coi ông là người phát ngôn cho tư tưởng của tác giả.
Ông Quán nói: “Kinh sử đã từng, Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa. Hỏi thời ta phải nói ra, Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.”
Câu nói của ông Quán cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa ghét và thương trong trái tim Nguyễn Đình Chiểu. Ghét không phải vì lợi ích cá nhân, mà vì lòng thương yêu sâu sắc đối với cuộc đời: Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.
Lẽ ghét thương của ông Quán là một yêu cầu về đạo đức và lý tưởng. Thương và ghét là hai mặt của một tình cảm thống nhất. Thương cái tốt đẹp thì phải ghét cái xấu xa. Lẽ ghét thương mà ông Quán nói đến gắn liền với lòng thương dân sâu sắc. Ghét chỉ là một biểu hiện khác của tình yêu thương.
Vì thương dân, thương đời mà ông Quán căm ghét những kẻ hại dân, hại đời. Giữa cuộc đời đầy bất công, trái tim yêu thương của Nguyễn Đình Chiểu không thể không lên tiếng căm phẫn những gì trái đạo lý. Vì chưng hay ghét cũng là hay thương – đó là đỉnh cao tư tưởng nhân văn của tác giả.
Ông Quán tiếp tục chứng minh lẽ ghét thương của mình. Cái gốc của ghét xuất phát từ tình thương. Không có tình thương, mọi sự ghét sẽ trở thành thái độ hằn học vô nghĩa.
Phần nói về lẽ ghét gồm mười câu: “Ghét việc tầm phào, Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.” Câu thơ hé mở nguyên nhân thái độ ghét của ông Quán và Nguyễn Đình Chiểu. Đằng sau từng chữ là một trái tim yêu thương sâu sắc. Tám câu tiếp theo chia làm bốn cặp, mỗi cặp nêu lên đối tượng bị ghét và cảnh khổ của dân:
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm, Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang. Ghét đời U, Lệ đa đoan, Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần. Ghét đời Ngũ bá phân vân, Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn. Ghét đời Thúc Quý phân băng, Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân.
Ông Quán ghét cay đắng các triều đại như vua Kiệt, vua Trụ, U vương, Lệ vương, những kẻ bạo ngược, hoang dâm, làm khổ dân. Đời Ngũ bá, Thúc Quý cũng khiến dân chúng lầm than vì chiến tranh liên miên.
Trong phần nói về lẽ thương, ông Quán nhắc đến các bậc hiền tài như Khổng Tử, Nhan Uyên, Gia Cát Lượng, Đổng Trọng Thư, Đào Tiềm, Hàn Dũ, Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, những người tài đức nhưng không gặp thời. Lẽ thương của ông Quán bắt nguồn từ tình thương dân, thương đời. Nguyễn Đình Chiểu cũng từng mơ ước lập thân nhưng gặp nhiều bất hạnh, nên trong lời thương xót các bậc hiền tài cũng có phần thương chính mình.
Qua lời ông Quán, Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện tư tưởng thương dân, ghét bọn hôn quân bạo chúa, và kính trọng những bậc hiền tài không gặp thời. Đằng sau lẽ ghét thương là tấm lòng nhân ái sâu sắc của nhà thơ mù đất Nam Kỳ.

6. Bài văn phân tích tác phẩm "Lẽ ghét thương" số 9
Nguyễn Đình Chiểu, một nhà văn, nhà thơ lỗi lạc của dân tộc, không chỉ thành công với thể loại văn tế mà còn ghi dấu ấn với truyện thơ. Tác phẩm “Lục Vân Tiên” của ông nổi tiếng, đặc biệt là đoạn trích “Lẽ ghét thương”, thể hiện rõ nét tình cảm đáng ngưỡng mộ của ông lão quán trọ.
Đoạn trích “Lẽ ghét thương” từ truyện “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu phản ánh sự ghét và thương của ông lão bán quán nước. Hoàn cảnh ông bày tỏ lẽ ghét thương là khi chứng kiến cuộc thi giữa Lục Vân Tiên, Tử Trực, Trịnh Hâm, và Bùi Kiệm. Khi Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thua, họ đổ lỗi cho Lục Vân Tiên gian lận, khiến ông lão bất bình và lên tiếng.
Ông lão không phải người thiếu hiểu biết, từng học hành và đọc nhiều, nhưng chán ghét cảnh quan trường nên về quê bán nước. Điều này thể hiện tâm tư của Nguyễn Đình Chiểu và các nho sĩ khác, chán ngán cảnh tranh chấp, muốn sống đời bình yên.
Chỉ với bốn câu thơ đầu, ông lão bày tỏ sự bất bình trước cuộc thi. Ông từ bỏ chốn thi cử từ lâu, nhưng khi thấy sự ngang ngược của Trịnh Hâm và Bùi Kiệm, ông không thể im lặng.
“Quán rằng: “Kinh sử đã từng”,
Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa.
Hỏi thời ta phải nói ra,
Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”
Ông lão bắt đầu bộc lộ những suy nghĩ ấp ủ. Dù giờ là ông lão bán nước, nhưng trước đây ông từng là người học rộng, tham gia các kỳ thi. Cuộc thi giữa bốn người khiến ông khuyên Lục Vân Tiên nên chọn bạn mà chơi, thể hiện qua bốn câu thơ đầu.
Lục Vân Tiên, với sự ham học hỏi, hỏi ông lão về lẽ ghét thương:
“Tiên rằng: “Trong đục chưa tường,
Chẳng hay thương ghét, ghét thương lẽ nào?”
Lục Vân Tiên khiêm tốn muốn nghe kinh nghiệm từ ông lão. Ông lão sẵn sàng chia sẻ, bắt đầu bằng việc nói về sự ghét, vì nó thường gây khó chịu hơn sự thương:
“Quán rằng: “Ghét việc tầm phào
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tới tâm.”
Ông lão thẳng thắn bày tỏ quan điểm, ghét những chuyện vô nghĩa trong cuộc sống. Ba từ “ghét” lặp lại thể hiện sự căm ghét của ông với những điều vô nghĩa.
Ông lão liệt kê những điều ông ghét:
“Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.
Ghét đời Ngũ bá phân vân,
Chuộng bể dối trá làm dân nhọc nhằn.
Ghét đời thúc quí phân băng,
Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân.”
Ông lão, như hiện thân của Nguyễn Đình Chiểu, kể tội những hôn quân khiến dân chúng khổ cực. Ông yêu thương nhân dân và ghét những gì hại đến họ.
Sau phần ghét, nhịp thơ chuyển sang sự thương, nhẹ nhàng hơn:
“Thương là thương đức thánh nhân
Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông
Thương thầy Nhan Tử dở dang.
Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh.
Thương ông Gia Cát tài lành,
Gặp cơn Hán mạt đã đành phui pha
Thương thầy Đồng tử cao xa,
Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi.
Thương người Nguyên Lượng ngùi ngùi,
Lỡ bề giúp nước lại lui về cày.
Thương ông Hàn Dũ chẳng may,
Sớm dâng lời biểu, tối đày đi xa.
Thương thầy Liêm, Lạc đã ra,
Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân”.
Ông lão nhắc đến các danh nhân lịch sử với sự tôn trọng và thương cảm. Họ là những người tài giỏi nhưng cuộc đời dở dang.
Kết thúc, ông lão tổng kết:
“Xem qua kinh sử mấy lần,
Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương”
Qua nhân vật ông lão, Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện quan điểm của mình về lẽ ghét thương.

7. Bài phân tích tác phẩm "Lẽ ghét thương" số 10
"Truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là một bản hùng ca về đạo đức, ca ngợi chính nghĩa và những giá trị đạo đức đáng trân trọng trong cuộc sống, đồng thời tôn vinh những con người chính trực" (Phạm Văn Đồng). Đoạn trích Lẽ ghét thương thu hút người đọc bởi tinh thần nhân văn, tình cảm yêu ghét rõ ràng và lòng nhiệt thành với lẽ phải, phản ánh đặc trưng tính cách con người Nam Bộ.
Dù là một nhà thơ mù, Nguyễn Đình Chiểu luôn đề cao việc sáng tác văn chương để truyền bá đạo lý và chống lại cái xấu. Tác phẩm của ông luôn chứa đựng tinh thần nhân văn sâu sắc, trong đó người đọc dễ dàng nhận thấy những tình cảm rõ ràng: yêu – ghét, đồng cảm, phẫn nộ… Những tình cảm này có thể được bộc lộ trực tiếp trong các tác phẩm như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh…, hoặc gián tiếp thông qua lời nói của nhân vật. Thái độ và tình cảm của ông Quán trong Lẽ ghét thương (trích từ Lục Vân Tiên) là một ví dụ điển hình.
Lẽ ghét thương là những dòng thơ đầy tâm huyết về nỗi ghét và tình thương nhân bản của Nguyễn Đình Chiểu. Trong tình huống này, nhân vật ông Quán trở thành người phát ngôn thay cho tác giả. Tình cảm yêu ghét rõ ràng của ông Quán được bộc lộ ngay sau khi chứng kiến cảnh Lục Vân Tiên, Vương Tử Trực, Bùi Kiệm và Trịnh Hâm thi tài tại quán của mình.
Trong 26 câu thơ của đoạn trích, có tới 16 câu nói về tình thương. Điều này cho thấy tình thương yêu con người chiếm phần lớn nội dung. Bản thân Nguyễn Đình Chiểu từng nói: "Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương". Khi suy ngẫm kỹ, ta sẽ thấy rằng gốc rễ của nỗi ghét chính là tình thương dân sâu sắc.
Tình thương là nền tảng, là động lực để nhà thơ lên tiếng phê phán những kẻ xấu xa, độc ác. Ông Quán ghét cay ghét đắng những chuyện vô nghĩa, những điều đa đoan, dối trá, mê dâm vì chúng gây rối loạn và đau khổ cho dân lành. Mỗi lần nhắc đến một đối tượng đáng ghét, tác giả lại thêm một lời bình luận về tội ác của chúng:
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hoang
Ghét đời U, Lệ đa đoan
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần…
Trong 10 câu thơ nói về lẽ ghét, có tới bốn câu nói về mức độ đau khổ mà dân lành phải chịu:
– Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hoang.
– Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.
– Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn.
– Sớm đầu tối đánh lằng nhằng dối dân.
Nếu những câu thơ về lẽ ghét thể hiện sự kinh bỉ và phẫn nộ, thì những câu thơ này lại chậm rãi, thể hiện sự đồng cảm và chia sẻ của nhà thơ với nhân dân. Để diễn tả sâu sắc nỗi ghét, Nguyễn Đình Chiểu sử dụng nghệ thuật điệp từ. Chỉ trong 10 câu thơ đầu, tác giả đã dùng tới 8 từ "ghét". Riêng câu thơ thứ hai đã có ba từ: "Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm".
Cay, đắng là những từ chỉ mùi vị, nhưng ở đây chúng được dùng để diễn tả mức độ sâu sắc của nỗi ghét. Sự kết hợp giữa điệp từ "ghét" và sự tăng tiến về mức độ giúp nhà thơ hé lộ rằng đối tượng bị ghét không chỉ thuộc về một thời đại mà tồn tại trong mọi thời đại.
Nỗi ghét của ông Quán không chỉ dừng lại ở thái độ bề ngoài mà đã thấm sâu vào máu thịt, vào tận tâm can. Cái gọi là "ghét" của ông thực chất là lòng căm thù. Ông căm thù tất cả những kẻ gây tổn hại đến cuộc sống của nhân dân. Điều này thể hiện tính nhân dân sâu sắc trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
Đối lập với nỗi ghét là tình thương. Ông Quán bộc lộ tình thương của mình trong 16 câu thơ. Chỉ với 16 câu, tác giả đã khắc họa rõ nét tấm lòng đồng cảm, xót xa của ông Quán dành cho những bậc hiền nhân quân tử, những người muốn giúp vua cứu dân nhưng không thành. Người đầu tiên được nhắc đến là Khổng Tử – người đã trải qua nhiều gian nan khi truyền bá đạo lý:
Thương là thương đức thánh nhân
Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông.
Ông thương cả những người chết trẻ, chưa kịp đạt được công danh:
Thương thầy Nhan Tử dở dang
Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh.
Ông cũng thương những người không gặp thời vận, những vị quan thanh liêm nhưng không được trọng dụng…
Thương ông Gia Cát tài lành
Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha……
Thương thầy Liêm, Lạc đã xa
Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân.
Nếu ở 10 câu đầu, Nguyễn Đình Chiểu để nhân vật bộc lộ lòng căm thù những kẻ hại dân, thì ở đoạn sau, tác giả lại để nhân vật trực tiếp thể hiện tình thương với những người tài đức nhưng gặp bất hạnh. Để diễn tả tình thương, nhà thơ sử dụng điệp từ "thương" tới chín lần, thể hiện tình cảm bao la dành cho những số phận đau khổ trước quy luật khắc nghiệt của xã hội.
Đoạn trích Lẽ ghét thương tuy ngắn nhưng được tổ chức chặt chẽ, mạch lạc. Sự kết hợp giữa điệp từ "ghét", "thương" và bố cục chặt chẽ không chỉ làm rõ ý thơ mà còn tạo nên giọng điệu vừa trang nghiêm vừa thống thiết – đặc trưng của thơ trữ tình Nguyễn Đình Chiểu.
Qua nhân vật ông Quán, Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm những lời tâm huyết về lẽ ghét thương. Điều này không chỉ thể hiện tâm hồn giàu tình yêu thương mà còn khẳng định tinh thần nhân bản sâu sắc của tác giả.

8. Bài văn phân tích tác phẩm "Lẽ ghét thương" số 1
Xuân Diệu từng nhận định chính xác: “Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên đoạn thơ về lẽ ghét thương nổi tiếng. Từ ngàn xưa, đây vốn là tình cảm phổ biến của nhân dân, và nhiều thi nhân trước đó cũng đã viết về sự đúng sai, chính tà. Tuy nhiên, việc tập trung thành mấy chục câu thơ giản dị, rõ ràng, sắc nét, có nhạc điệu và tâm tình, khiến ai cũng phải thuộc lòng, thì chỉ có Nguyễn Đình Chiểu làm được một cách điển hình như vậy”.
Đoạn trích này là lời của ông Quán khi chứng kiến cảnh Vân Tiên, Tử Trực, Bùi Kiệm, Trịnh Hâm thi tài xướng họa tại quán của mình. Kiệm và Hâm kém tài, không làm được thơ, lại nghi ngờ và đổ lỗi cho Tiên và Trực chép thơ cổ nhân. Ông Quán cười lớn, khuyên Tiên nên biết chọn bạn. Tiên xin ông giải thích về lẽ ghét thương trong đời, từ đó ông Quán đã phát biểu như trong đoạn trích “Lẽ ghét thương”.
Trong đoạn văn, ông Quán đã trình bày 10 dòng về ghét, 14 dòng về thương, và kết lại bằng hai câu “nửa phần ghét, nửa phần thương” trong cuộc đời. Ông Quán ghét điều gì? Qua bốn điều ghét: ghét đời Kiệt, Trụ, ghét đời U, Lẽ, ghét đời Ngũ Bá, ghét đời Thúc Quý, ta thấy ông Quán ghét những chế độ xã hội thối nát, đạo đức suy đồi, dối trá, hèn hạ, dâm dục... khiến nhân dân lâm vào cảnh khốn cùng “sa hầm sẩy hang”.
Qua bốn điều ghét, ta cũng thấy Nguyễn Đình Chiểu đã đưa ra tiêu chuẩn rõ ràng về điều đáng ghét: những gì làm khổ dân, nhũng nhiễu dân, gây hại cho dân đều đáng ghét. Mức độ căm ghét của ông cũng vô cùng sâu sắc. Những từ ngữ sau đây như được khắc sâu vào đá, không thể phai mờ:
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm. Ông Quán thương ai? Qua bảy điều thương, ta thấy ông thương những nhà nho nổi tiếng, từ Khổng Tử, Nhan Hồi, Đổng Trọng Thư, Gia Cát Lượng, đến Đào Tiềm, Hàn Dũ, Chu Hi, Trình Di, Trình Hiệu thời Đường-Tống.
Vì sao ông thương họ? Ông thương vì cuộc đời họ dang dở, gặp nhiều gian truân, không có điều kiện phát huy đầy đủ tài năng và đức độ. Nhìn chung, ông Quán thương những người tài đức nhưng gặp khó khăn, bị hãm hại. Qua những điều thương này, ta thấy ông Quán vô cùng xót xa cho những bậc hiền tài, đức trọng trong đời.
Điều đáng chú ý nhất trong đoạn văn là trong ghét có thương, trong thương có ghét. Khi nói về ghét các đời đa đoan, lời văn đã thể hiện một tình yêu thương lớn: thương dân. Khi nói về thương, lời văn lại toát lên sự căm ghét, ghét những kẻ tiểu nhân đẩy đuổi người hiền tài.
Tổng hợp lại, ông Quán thương nhân dân, thương hiền tài, ghét xã hội thối nát, ghét những kẻ tiểu nhân đê tiện, nguồn gốc của mọi bất hạnh trong đời. Lẽ ghét thương của ông Quán cũng chính là lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu, chứng tỏ nhà thơ luôn đứng về phía nhân dân và chính nghĩa.
Sự lặp lại các từ “ghét đời”, “thương là”, “thương người”... có ý nghĩa như một dấu hiệu liệt kê. Sau mỗi từ ấy, người đọc mong chờ thêm một hiện tượng đáng ghét, một điều đáng thương trong đời. Sự lặp lại tạo hiệu ứng biểu cảm mạnh mẽ, thể hiện nguồn tình cảm dạt dào, tuôn chảy không ngừng trong trái tim ông Quán và nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu. Mấy câu thơ:
Quán rằng: ghét việc tầm phào
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm
Là những câu thơ đặc sắc. Hai câu thơ với bốn chữ “ghét” thể hiện cường độ sâu sắc của tình cảm. Hơn nữa, các chữ “ghét” được sắp xếp theo nhịp điệu tự nhiên, nhịp nhàng, tạo hiệu ứng khắc sâu. Cách dùng từ mang tính khẩu ngữ: “ghét cay ghét đắng”, “ghét chuyện tầm phào”, thể hiện sự hồn nhiên, bộc trực, không quanh co. Vẻ đẹp của thơ Nguyễn Đình Chiểu là sự thẳng thắn, dứt khoát, và vì thế mà mạnh mẽ.

9. Bài văn phân tích tác phẩm "Lẽ ghét thương" số 2
Nguyễn Đình Chiểu, một ngôi sao rực rỡ trong nền văn học trung đại Việt Nam, đã để lại những tác phẩm mang đậm triết lý nghệ thuật:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Vấn đề đạo đức con người được ông đặc biệt chú trọng và khắc họa qua nhiều khía cạnh. Tác phẩm Lục Vân Tiên là minh chứng tiêu biểu, thể hiện khát vọng xây dựng mối quan hệ chân thành giữa con người. Nhân vật ông Quán trong tác phẩm là một hình tượng hấp dẫn, một nhà Nho ẩn dật, phản ánh chính tâm tư của Đồ Chiểu trước thế sự.
Lục Vân Tiên không chỉ ca ngợi trung, hiếu, tiết, hạnh mà còn đề cao nhân nghĩa và lên án những điều bất nhân, bất nghĩa. Tác phẩm tràn ngập tình cảm đẹp đẽ, hồn nhiên của những con người biết giúp đỡ nhau trong khó khăn, yêu thương nhau trong hoạn nạn, sống với tình nghĩa sâu nặng.
Ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu luôn sôi nổi, tràn đầy yêu thương. Qua Lục Vân Tiên, ông như muốn nêu lên những tấm gương đạo đức. Đạo đức phong kiến mà ông hướng đến chính là lòng yêu nước. Trung quân là trung với nước, với lẽ phải, với lương tri con người.
Đoạn trích Lẽ ghét thương trong Lục Vân Tiên gồm 26 câu thơ lục bát, là lời tâm huyết của ông Quán. Qua đó, ta thấy rõ tư tưởng trung quân của Nguyễn Đình Chiểu không xuất phát từ vua mà từ dân, từ lợi ích của dân. Ông chỉ trung thành với những vị vua biết lo cho dân, còn những kẻ hại dân thì ông lên án mạnh mẽ. Cái ghét và tình thương của ông bắt nguồn từ tấm lòng yêu thương sâu sắc: Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương.
Lẽ ghét thương là những lời tâm huyết về nỗi ghét và tình thương nhân bản của Nguyễn Đình Chiểu. Trong đoạn trích, có 10 câu nói về lẽ ghét và 16 câu nói về tình thương. Cái ghét của ông xuất phát từ tình thương dân sâu sắc. Ông ghét những kẻ quyền thế lợi dụng chức vụ để hại dân, những vua chúa bạo ngược như đời Kiệt, Trụ; đời U, Lệ; đời Ngũ Bá, đời Thúc, Quý. Bốn câu thơ trong 10 câu nói về lẽ ghét đều nhắc đến nỗi khổ của dân:
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Khiển dân luống chịu lầm than muôn phần.
Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn.
Sớm đâu tối đánh lằng nhằng dối dân.
Nỗi ghét được diễn tả sâu sắc qua điệp từ “ghét” trong câu thơ: Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm. Nghệ thuật tăng cấp từ vị giác (cay, đắng) đến cảm xúc sâu thẳm (ghét vào tận tâm) cho thấy sự căm thù mãnh liệt của ông Quán với những kẻ hại dân.
Từ lẽ ghét, ông Quán bộc lộ tình thương bao la. Trong 16 câu thơ, ông thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và cảm thương sâu sắc với những bậc hiền tài, đức hạnh như Khổng Tử, Nhan Tử, Gia Cát Lượng, Đổng Trọng Thư, Hàn Dũ... Những người này dù tài đức nhưng gặp nhiều bất hạnh, không thực hiện được nguyện vọng cứu đời, giúp dân. Tình thương của ông Quán cũng xuất phát từ lòng thương dân.
Đoạn thơ 16 câu thể hiện tính nhân bản sâu sắc, với điệp từ “thương” lặp lại 9 lần. Mở đầu đoạn, ông Quán bày tỏ tình thương với Khổng Tử:
Thương là thương đức thánh nhân
Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông.
Ông cũng thương những người chết yểu khi công danh còn dang dở:
Thương thầy Nhan Tử dở dang
Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh.
Và cả những người gặp bất hạnh trên đường đời:
Thương ông Gia Cát tài lành
Gặp cơn Hán mạt đã đành phui pha.
Đoạn trích có bố cục chặt chẽ, mở đầu bằng nỗi ghét:
Quán rằng: Ghét việc tầm phào
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.
Và kết thúc bằng câu nói về cả ghét lẫn thương:
Xem qua kinh sử mấy lần
Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương.
Qua lời ông Quán, Nguyễn Đình Chiểu đã bày tỏ tâm huyết về lẽ ghét và tình thương, xuất phát từ tấm lòng yêu thương nhân dân sâu sắc.

10. Bài văn phân tích tác phẩm "Lẽ ghét thương" số 3
Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ vĩ đại, ngôi sao sáng chói trong nền văn học dân tộc. Các tác phẩm của ông được người dân Nam Bộ đặc biệt yêu quý và đón nhận, bởi chúng phản ánh tâm hồn và cốt cách của chính họ. Tác phẩm nổi bật nhất trong sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là Lục Vân Tiên, với những quan điểm và tư tưởng sâu sắc về con người và xã hội. Đặc biệt, trong đoạn trích “Lẽ ghét thương”, thông qua nhân vật ông Quán, Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện những quan điểm đáng ngưỡng mộ về lẽ ghét và lẽ thương.
Đoạn trích Lẽ ghét thương được trích từ câu 473 đến câu 504, kể về cuộc trò chuyện giữa ông Quán và các nho sĩ trẻ. Trong quán trọ, bốn nhân vật Lục Vân Tiên, Tử Trực, Trịnh Hâm và Bùi Kiệm gặp nhau. Tại đây, Trịnh Hâm đề nghị mọi người làm thơ để phân định thứ bậc. Trong cuộc thi này, Vân Tiên tỏ ra vượt trội, khiến Trịnh Hâm tức giận và buộc tội Vân Tiên gian lận. Trong bối cảnh đó, ông Quán đã lên tiếng và bàn về lẽ ghét thương trong cuộc đời. Ông Quán mở đầu bằng việc tự giới thiệu về mình:
Quán rằng: Kinh sử đã từng
Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa.
Hỏi thời ta phải nói ra,
Vì chưng hay ghét cũng là hay thương
Ông Quán vốn là một kẻ sĩ, từng dùi mài kinh sử với ước mộng công danh và giúp ích cho đời. Nhưng do những biến cố trong cuộc đời và xã hội, ông đã lui về ở ẩn. Tuy nhiên, tinh thần của một kẻ sĩ vẫn mãi không phai nhạt. Ông Quán là hình ảnh tiêu biểu cho những nhà Nho tài giỏi nhưng chọn sống ẩn dật, sống một cuộc đời an nhàn, tự tại, hòa mình với thiên nhiên. Có thể coi ông Quán là người phát ngôn cho tư tưởng của tác giả.
Qua câu nói: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”, ta thấy được mối quan hệ khăng khít giữa hai thứ tình cảm đối lập này: ghét và thương. Hai trạng thái cảm xúc tuy đối lập nhưng luôn song hành với nhau. Người ta ghét những điều tầm thường, giả dối nên mới thương những điều nhân ái, tốt đẹp. Vì vậy, chúng luôn tồn tại và không thể tách rời.
Trước những lời nói đó, Vân Tiên tỏ ra khiêm nhường, mong muốn được nghe lời chỉ dạy từ bậc tiền bối: “Tiên rằng: Trong đục chưa tường/ Chẳng hay thương ghét, ghét thương thế nào?”. Có lẽ một người tài giỏi như Vân Tiên đã hiểu rõ lẽ ghét thương trong đời. Nhưng với sự khiêm tốn của một nho sinh, Vân Tiên đã khiêm nhường để được nghe những lời chỉ bảo từ ông Quán.
Những câu thơ tiếp theo, tác giả thể hiện những điều mình ghét: “Quán rằng: ghét việc tầm phào/ Ghét cay, ghét đắng ghét vào tận tâm./ Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm/ Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang… Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân”. Ông Quán ghét chế độ thối nát, vua chúa bạo tàn, chiến tranh liên miên khiến đời sống người dân cực khổ.
Có thể thấy, mỗi điều ông ghét đều đi kèm với hậu quả của các triều đại đó, như ghét đời Kiệt Trụ vì mê dâm khiến nhân dân “sa hầm sẩy hang”. Những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể, ngắn gọn như một bản tổng kết lịch sử về các triều đại thối nát của Trung Quốc. Ông ghét những điều khiến nhân dân khổ cực, những hành động nhũng nhiễu gây hại cho dân. Lòng ghét của ông gắn liền với tình thương dân sâu nặng.
Còn điều ông thương là gì? “Thương là thương đức thánh nhân/ Khi nơi Tống, Vệ lúc Trần, lúc Khuông/ …/ Thương thầy Liêm, Lạc đã ra/ Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân”. Nếu như ở phần trên, giọng điệu ông Quán đầy căm tức với những Trụ, Kiệt, U, Lệ,… thì đến đây, giọng và nhịp thơ trở nên trìu mến và thiết tha hơn. Những cái tên ông nhắc đến: Khổng Tử, Nhan Hồi, Trình Di, Đào Tiềm, Hàn Dũ,… đều là những nhân vật có đức, có tâm, có tài nổi tiếng trong lịch sử.
Họ là những người tài giỏi, có tấm lòng bao la, cả đời cống hiến nhưng cuộc sống lại đầy truân chuyên. Ông thương những người có đức, có tài nhưng gặp nhiều khó khăn. Lòng thương của ông gắn liền với sự trân trọng và yêu quý người tài. Từ lẽ thương ấy, ông Quán đã rút ra bài học cho chính mình:
Xem qua kinh sử mấy lần,
Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương.
Tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức biểu cảm. Sử dụng thủ pháp đối lập: sa hầm đối với sẩy hang, sớm đầu đối với tối đánh,… làm cho nhịp thơ linh hoạt, nhịp nhàng hơn. Nghệ thuật điệp ngữ: thương ông, thương ông lặp lại nhiều lần giúp diễn tả lẽ ghét thương của tác giả.
Lẽ ghét thương là đoạn trích thể hiện tập trung tư tưởng và quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu qua nhân vật ông Quán. Ông có lòng yêu dân, thương dân sâu sắc, vì thương dân nên ông càng ghét những hôn quân bạo chúa, những kẻ chuyên làm điều bạo ngược với dân lành. Đằng sau những vần thơ thống thiết, ta thấy được tấm lòng nhân ái, nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu.

