1. Doanh nghiệp tư nhân
Với quy định về giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu trong các loại hình doanh nghiệp hiện nay, không nhiều người chọn hình thức Doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, vẫn có một số người mong muốn thành lập loại hình này và sẵn sàng chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình hoạt động, nhằm phát triển uy tín cá nhân. Trung bình mỗi tuần có khoảng 20 doanh nghiệp tư nhân được thành lập.
Đặc điểm pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân:
- Do một cá nhân làm chủ.
- Không có tư cách pháp nhân.
- Chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

2. Công ty hợp danh
Số lượng Công ty hợp danh hiện nay khá ít, đôi khi không có công ty nào được thành lập trong tuần. Mặc dù công ty hợp danh không quá phức tạp trong việc quản lý, nhưng do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn, mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất lớn. Các thành viên này không chỉ góp vốn mà còn phải bảo vệ uy tín cá nhân và chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi hoạt động của công ty, vì vậy họ cần sự tin tưởng tuyệt đối từ nhau.
Các đặc điểm chính của Công ty hợp danh:
- Được thành lập bởi ít nhất hai thành viên cùng nhau điều hành dưới một tên chung, có thể có thêm thành viên góp vốn.
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty bằng toàn bộ tài sản cá nhân.
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp.
- Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân từ khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
- Công ty hợp danh không được phát hành chứng khoán trong quá trình hoạt động.

3. Công ty TNHH Một thành viên
Theo thống kê từ Cổng thông tin Quốc gia về Đăng ký Doanh nghiệp, Công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp được thành lập nhiều nhất. Mỗi tuần, trung bình có hơn 1.500 công ty TNHH một thành viên được đăng ký. Lý do lựa chọn phổ biến là do đặc điểm quản lý đơn giản và gọn nhẹ, cụ thể như sau:
- Do một cá nhân hoặc tổ chức làm chủ sở hữu.
- Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản trong phạm vi vốn điều lệ của công ty.
- Có tư cách pháp nhân.
- Không được quyền phát hành cổ phần.
Công ty TNHH một thành viên có thể được sở hữu bởi một tổ chức hoặc cá nhân, và việc quản lý công ty thường được tổ chức dưới một trong các hình thức sau (theo Luật Doanh nghiệp 2020):
- Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc.
- Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc (trường hợp tổ chức là chủ sở hữu).

4. Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Hiện nay, loại hình công ty TNHH được ưa chuộng rất nhiều, đặc biệt là Công ty TNHH hai thành viên trở lên. Mô hình này có số lượng thành viên nhỏ, thường là những người quen biết và tin tưởng nhau, vì vậy việc điều hành và quản lý công ty trở nên dễ dàng hơn so với các công ty cổ phần. Trung bình mỗi tuần có hơn 600 công ty TNHH hai thành viên trở lên được thành lập.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, Công ty TNHH hai thành viên trở lên có các đặc điểm sau:
- Có tư cách pháp nhân.
- Được thành lập với từ 02 thành viên trở lên, nhưng không quá 50 thành viên trong suốt quá trình hoạt động.
- Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của mình. Thành viên công ty chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty.
- Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy trình pháp lý.
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên không có quyền phát hành cổ phần.
Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH hai thành viên trở lên gồm có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc. Công ty này là doanh nghiệp nhà nước và công ty con của doanh nghiệp nhà nước phải thành lập Ban kiểm soát; các trường hợp khác do công ty quyết định.

5. Công ty cổ phần
Mỗi tuần, nước ta ghi nhận khoảng 500 Công ty cổ phần được thành lập. Công ty cổ phần có các đặc điểm chính sau:
- Có ít nhất 03 thành viên, nhưng không giới hạn số lượng thành viên tối đa. Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
- Vốn điều lệ được chia thành các phần nhỏ gọi là cổ phần.
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân từ khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
- Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần để huy động vốn. Chính vì vậy, khả năng huy động vốn của loại hình này rất linh hoạt và cao, thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng hoặc chào bán cổ phần.
Đặc biệt, công ty cổ phần có thể niêm yết và giao dịch cổ phiếu trên sàn chứng khoán nếu đáp ứng đủ điều kiện.

