1. Tác phẩm 'Đò Lèn' của Nguyễn Duy số 4
Khám phá tổng quan về tác phẩm
Tác giả
Nguyễn Duy: Sinh năm 1948, quê quán tại Thanh Hóa.
Phong cách thơ của ông là sự kết hợp hài hòa giữa trữ tình và hiện thực xã hội.
Những tác phẩm tiêu biểu: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987), Bụi (1997)
Tác phẩm:
Tình huống sáng tác của bài thơ Đò Lèn được thể hiện năm 1983, thời điểm Nguyễn Duy trở về quê, gợi nhớ về những ký ức của tuổi thơ. Bài thơ này nằm trong tập 'Ánh trăng'.
Cấu trúc bài thơ chia thành hai phần:
Phần 1 (năm khổ thơ đầu): Hồi ức về hình ảnh người bà lam lũ, tần tảo và sự vô tình của người cháu.
Phần 2 (khổ cuối): Sự thức tỉnh của người cháu khi đối diện với quy luật nghiệt ngã của cuộc sống, tạo nên nỗi xót xa và hối tiếc sâu sắc.
Câu 1: Trong bài thơ, cái tôi của tác giả thời thơ ấu được thể hiện ra sao? Có gì đặc biệt trong cách nhìn về quá khứ?
Trả lời:
Tuổi thơ của nhà thơ, dù phải đối diện với những khó khăn do chiến tranh, vẫn mang vẻ đẹp tinh nghịch và hồn nhiên đáng nhớ.
Khổ thơ đầu mang đến kí ức về những giây phút vui vẻ, những trò chơi hồn nhiên của trẻ con. Đặc biệt, có niềm đam mê, mơ mộng vươn tới thế giới thần thoại.
Ở khổ thơ tiếp theo, tác giả xây dựng hình ảnh người bà trong đời thực với nhiều khó khăn, gian khổ: Bà phải 'mò cua xúc tép', gánh chè xanh trên vai để phụ giúp gia đình; sống trong cảnh khốn khó, bà chỉ có thể ăn 'củ dong riềng luộc sượng' để vượt qua nỗi đói khát; trong thời điểm chiến tranh khốc liệt, ngôi nhà bị bom Mỹ tàn phá, bà còn phải 'bán trứng ở ga Lèn'.
Nguyễn Duy đã khéo léo thể hiện những kỷ niệm, không chỉ là những điều tốt đẹp mà còn bao gồm cả những điều đau thương, như việc "Ăn trộm nhãn chùa Trần". Điều này dễ dàng gợi nhớ về sự tinh nghịch, hồn nhiên của thời thơ ấu.
Câu 2: Tình cảm sâu nặng của tác giả dành cho bà được bộc lộ qua những hình ảnh nào?
Trả lời:
Hình ảnh người bà được khắc họa rất rõ nét: bà mò cua, xúc tép, gánh chè xanh những đêm lạnh, và bán trứng ở ga Lèn trong câu chuyện bom Mỹ rơi, xen lẫn những năm đói với củ dong riềng luộc sượng.
Bà là người đã hy sinh cả cuộc đời để nuôi dưỡng, chăm lo cho cháu từng bát cơm, ngay cả trong những lúc khó khăn nhất của chiến tranh, bà vẫn dành những phần ít ỏi từ dong riềng cho cháu. Tình cảm thương yêu mà Nguyễn Duy dành cho bà rất lớn lao, không thể nào diễn tả hết.
Tác giả thể hiện niềm kính trọng và tri ân sâu sắc đối với bà. Sự ân hận, nuối tiếc, và xót xa hiện lên qua câu thơ: "Khi tôi biết thương bà thì đã muộn/ Bà chỉ còn một nấm cỏ thôi".
Câu thơ này như tiếng khóc nghẹn ngào của một đứa cháu khi đã rời xa quê hương đi chiến đấu, nhưng bà đã không còn nữa, khiến người đọc cũng phải xúc động và đồng cảm với nỗi mất mát sâu sắc này.
Câu 3: Cách tác giả thể hiện tình thương bà có điểm gì nổi bật? So sánh nét độc đáo trong hình ảnh thơ giữa hai tác phẩm: Bằng Việt (Bếp lửa) và Nguyễn Duy (Đò Lèn).
Trả lời:
Trong tác phẩm Bếp lửa, nhà thơ Bằng Việt làm sống dậy những kỷ niệm đẹp đẽ về tình cảm bà cháu. Tình cảm này được thể hiện qua tiếng chim tu hú và hình ảnh bếp lửa đang bừng cháy.
Trong khi đó, Nguyễn Duy đã sử dụng thành công những kỹ thuật nghệ thuật như đối chiếu và so sánh để tạo nên những vần thơ đầy sức nặng.
Tác giả khéo léo tạo nên những sự đối lập giữa sự vô tư, tinh nghịch của người cháu với những vất vả, lam lũ của người bà, giữa cuộc sống nghèo khổ và tình yêu thương rộng lớn của bà dành cho cháu.
Ông cũng thực hiện việc so sánh giữa thực và hư, giữa bà và tiền, Phật, thần thánh, làm nổi bật hình ảnh bà trong cảnh chiến tranh.
Giọng điệu và lời thơ chân thành, thẳng thắn thể hiện sự hối tiếc, đắng lòng và nuối tiếc, gợi lên những suy nghĩ sâu sắc về cuộc sống con người.

2. Bài soạn 'Đò Lèn' của Nguyễn Duy số 5
A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
1. Tác giả:
Nguyễn Duy là một nhà thơ nổi tiếng với những đóng góp đáng ghi nhận trong việc làm mới thể thơ truyền thống. Những tác phẩm của ông mang âm hưởng vừa trầm lắng, vừa mạnh mẽ, tạo nên những rung động sâu sắc trong lòng người đọc, mang lại những giá trị vĩnh hằng của cuộc sống. Năm 2007, ông vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật, minh chứng cho tài năng và sự cống hiến của mình. Thơ của Nguyễn Duy thường xoay quanh vẻ đẹp giản dị trong cuộc sống thường ngày, tìm kiếm những giá trị bền vững trong những hình ảnh quen thuộc. Với những cảm xúc chân thành và những suy tư sắc sảo, ông đã thành công khi chuyển tải chúng qua một hình thức thơ vừa mang tính dân gian vừa có nét cổ điển phương Đông.
2. Bài thơ Đò Lèn:
Sáng tác của ông ra đời vào tháng 9/1983, mang đậm dấu ấn quê ngoại. Bài thơ được chia thành hai đoạn, trong đó năm khổ thơ đầu khắc họa hình ảnh người cháu hồi tưởng về cuộc sống vất vả, tảo tần của người bà, đồng thời thể hiện sự vô tâm của chính mình. Khổ thơ cuối là sự nhận thức sâu sắc về những quy luật nghiệt ngã của cuộc sống, làm cho trái tim của người cháu trĩu nặng vì tình yêu thương dành cho bà.
B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI
Câu 1 (Trang 149 SGK) Cái tôi của tác giả thời thơ ấu hiện lên như thế nào trong bài thơ? Nét quen thuộc và mới mẻ của cái nhìn về bản thân trong quá khứ?
Bài làm:
Trong những hồi ức tuổi thơ, Nguyễn Duy không chỉ mang đến những ký ức đẹp đẽ mà còn chạm vào những khoảnh khắc khó khăn, đói khổ của mình cùng những đứa trẻ cùng thời. Ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất, cảm xúc yêu thương và sự tinh nghịch của trẻ thơ vẫn sáng rực. Những hình ảnh về trò chơi, ước mơ, và cả những sai lầm trong tuổi thơ đã tạo nên một bức tranh sống động về giai đoạn hồn nhiên, vô tư trong cuộc sống.
Câu 2 (Trang 149 SGK) Tình cảm của tác giả với bà mình được thể hiện ra sao trong bài thơ?
Bài làm:
Bức tranh về người bà trong tác phẩm được vẽ nên bằng tình yêu thương, tôn vinh hình ảnh một người đàn bà đã dành cả cuộc đời mình để chăm sóc và nuôi nấng đứa cháu mồ côi. Tình cảm ấy sâu đậm qua những hình ảnh giản dị: mò cua xúc tép, gánh chè xanh, và những ổ bánh trứng trong những ngày khốn khó. Nguyễn Duy không chỉ làm nổi bật tình cảm giản dị mà còn thể hiện sự ân hận và nỗi xót xa khi nhận ra tình yêu thương của bà đến muộn màng.
Câu 3 (Trang 149 SGK) Cách tác giả diễn đạt tình thương của mình đối với người bà có điểm đặc biệt nào? So sánh cách sử dụng hình ảnh giữa Nguyễn Duy và Bằng Việt trong các tác phẩm về cùng một đề tài.
Bài làm:
Nguyễn Duy đã khéo léo sử dụng những thủ pháp nghệ thuật như phép đối chiếu và so sánh để tạo nên những hình ảnh sinh động, nổi bật. Sự đối lập giữa thế giới vô tư của trẻ thơ và cuộc sống đầy khó nhọc của người bà được làm nổi bật qua những so sánh và đối chiếu tinh tế. Ông đã khéo léo đưa vào những chi tiết đời thường, qua đó tạo nên một bức tranh tình yêu bà cháu chân thực và sâu sắc.

3. Bài viết 'Đò Lèn' của Nguyễn Duy số 6
Câu 1: Trang 149SGK Ngữ Văn 12 - Tập 1
Trong tác phẩm, tác giả đã khéo léo phác họa hình ảnh cái tôi thời thơ ấu của mình. Đây là một cái tôi ngây thơ, trẻ trung, đầy nhiệt huyết với thế giới xung quanh, được thể hiện qua một cậu bé vui tươi, nghịch ngợm và vô tư lự:
Tham gia vào những trò chơi trong sáng như bắt chim, trộm nhãn, theo bà đi chợ hay câu cá.
Say mê với những điều kỳ bí, tác giả đã trải nghiệm thú vị khi thăm đền Cây Thị, chiêm ngưỡng lễ hội đền Sòng và ngấm dần hương vị của huệ trắng, khói trầm, cùng những hình ảnh cô đồng hát văn đầy ấn tượng.
Về góc nhìn của tác giả về bản thân trong quá khứ, có thể nhận ra:
Nét quen thuộc: Là sự trân trọng những hồi ức đẹp đẽ của thời thơ ấu, tình yêu quê hương và nỗi nhớ thương người bà kính yêu.
Nét mới mẻ: Là cái nhìn tự chiêm nghiệm, thấu hiểu sự vô tâm của chính mình khi chưa biết trân trọng khoảng thời gian bên cạnh bà.
Câu 2: Trang 149SGK Ngữ Văn 12 - Tập 1
Tình cảm sâu sắc của tác giả dành cho người bà được bộc lộ một cách rõ nét trong bài thơ qua những chi tiết sau:
Hình ảnh người bà mạnh mẽ, với những nỗ lực không ngừng vượt qua thử thách: Bà đã cùng cháu vượt khó qua thời kỳ chiến tranh, dẫu bôn ba, gian khổ, vẫn không ngừng yêu thương: bà mò cua, xúc tép, gánh chè xanh vượt núi và kiên trì bán trứng giữa những đêm giá lạnh mặc dù cuộc sống đầy hiểm nguy.
Người bà là phần ký ức không thể thiếu trong cuộc đời tác giả, hình ảnh gần gũi và thân thiết: níu váy bà đi chợ Bình Lâm, sống động giữa bà và các vị thần thánh.
Người cháu đã cảm thấy hối tiếc về sự vô tâm của mình: tôi từng không hiểu những vất vả của bà, lúc đó tôi còn quá trẻ để nhận thức được yêu thương, và khi tôi chợt tỉnh mộng, thì tất cả chỉ còn là dĩ vãng, bà giờ chỉ còn là nấm cỏ xanh.
→ Trước hình ảnh người bà giản dị, vất vả nhưng tràn đầy tình yêu thương dành cho con cháu, tác giả vừa cảm thấy yêu quý, trân trọng bà, đồng thời cũng trăn trở vì chưa đủ thời gian dành cho bà.
Câu 3: Trang 149SGK Ngữ Văn 12 - Tập 1
Cách mà tác giả bộc lộ tình cảm sâu nặng dành cho bà lại có những điểm nổi bật. Nếu so sánh từ góc độ hình ảnh mà hai tác giả cùng viết về chủ đề này: Bằng Việt (Bếp lửa) và Nguyễn Duy (Đò Lèn), chúng ta có thể nhận thấy:
Cả hai tác giả đều khắc họa những ký ức tuyệt vời về thời thơ ấu và hình ảnh người bà đáng nhớ; câu chuyện được kể từ góc nhìn của người cháu chiêm nghiệm lại quá khứ và đều thể hiện lòng kính trọng cũng như yêu thương sâu sắc đối với người bà đã khuất.
Tuy nhiên, điểm khác biệt là ở bài Đò Lèn, sự hối tiếc muộn màng của người cháu về những ngày tháng vô tư đầy tưởng tượng, mà không hiểu được nỗi vất vả của bà, thể hiện qua giọng thơ đầy nghẹn ngào; trong khi đó, bài Bếp lửa lại nổi bật lòng biết ơn và tình cảm gắn bó không nguôi về những kỷ niệm quý giá gắn liền với hình ảnh bếp lửa của bà trong ký ức.

4. Bài soạn 'Đò Lèn' của Nguyễn Duy số 1 - Phiêu bồ và Kỳ diệu
I. Tác giả
1. Tiểu sử: Nguyễn Duy Nhuệ, người con sinh vào năm 1948, là một nhà thơ chiến sĩ, đã hoạt động từ Khe Sanh cho đến đường 9 Nam Lào.
2. Sự nghiệp văn học: Ông đã để lại dấu ấn với những tác phẩm nổi bật như Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Khoảng cách (1986) và nhiều tác phẩm khác.
II. Tác phẩm
1. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ Đò Lèn được viết năm 1983, mang trong mình những sắc thái buồn vui của thời thơ ấu.
2. Bố cục tác phẩm: Phần 1 miêu tả hình ảnh cuộc sống tảo tần, cần cù; Phần 2 khám phá những nhận thức muộn màng.
3. Giá trị nội dung: Tác phẩm chứa đựng ký ức về thời thơ ấu cùng những ân hận về sự vô tâm, sống trong ảo tưởng.
4. Giá trị nghệ thuật: Tác phẩm khéo léo hòa quyện giữa các yếu tố dân gian và cổ điển, sử dụng hình ảnh giản dị nhưng đầy tính hài hước.
Câu 1 (Trang 149 sgk ngữ văn 12 tập 1):
Ký ức tuổi thơ trong tâm hồn nhà thơ được khắc họa một cách sống động, hồn nhiên nhưng cũng mang đầy suy tư và day dứt.
+ Những ký ức hiện lên với sự tương phản mạnh mẽ, thể hiện nỗi ân hận và những mâu thuẫn trong nhận thức của nhân vật.
- Hình ảnh tuổi thơ của tác giả:
+ Tuổi thơ đầy khó khăn, chịu đựng những thiếu thốn do tác động của chiến tranh.
+ Sự hồn nhiên, vô tư và nghịch ngợm: từ việc ra cống Na câu cá, bắt chim sẻ đến việc ăn trộm nhãn chùa Trần.
+ Niềm say mê với những thế giới hư ảo của thánh thần: đền Cây Thị, lễ hội ở đền Sòng, và những cảm xúc say mê trước mùi hương trầm, hoa huệ, điệu hát văn…
- Nét quen thuộc: Những kỷ niệm tuổi thơ chân thực và cảm động.
- Nét mới mẻ: Tác giả không ngần ngại chia sẻ cả những kỷ niệm không đẹp, thể hiện sự dũng cảm và cái nhìn sâu sắc từ nhiều góc độ.
Câu 2 (trang 149 sgk ngữ văn 12 tập 1):
Tình cảm sâu sắc của tác giả dành cho bà được thể hiện qua:
- Hình ảnh bà tảo tần: từ việc mò cua, xúc tép, gánh chè xanh trong những đêm lạnh đến việc bán trứng gà khi bom Mỹ rơi, hay khó khăn trong mùa đói củ dong riềng luộc.
- Cảm xúc của tác giả khi nghĩ về bà:
+ Thấu hiểu những nỗi vất vả cùng tình yêu thương vô bờ của bà, thể hiện lòng kính trọng và yêu thương chân thành.
+ Nỗi ân hận, day dứt khi nhận ra: "Khi tôi biết thương bà thì đã muộn. Bà chỉ còn một nấm cỏ thôi."
Câu 3 (trang 149 sgk ngữ văn 12 tập 1):
- Tình cảm thiêng liêng của Bằng Việt đối với bà được khắc họa qua âm thanh về tiếng tu hú và hình ảnh bếp lửa ấm cường cảm động.
- Đối với Nguyễn Du, tình cảm giữa bà và cháu được thể hiện một cách trực tiếp qua những ký ức chân thành và dạt dào.
- Nhà thơ đã bày tỏ tâm tư của mình với bà bằng những câu thơ tự trách, thể hiện nỗi ăn năn khi nhớ về những ngày trẻ dại đã qua.
5. Bài soạn 'Đò Lèn' của Nguyễn Duy số 2 - Huyền bí và Phong cách
Khái quát về tác giả và tác phẩm Đò Lèn
I. Tác giả Nguyễn Duy
- Nguyễn Duy, với tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại xã Đông Vệ, tỉnh Thanh Hóa.
- Mồ côi mẹ từ nhỏ, ông lớn lên dưới sự nuôi dưỡng của bà ngoại.
- Vào năm 1966, ông nhập ngũ và từ 1971 đến 1975 theo học tại Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
- Cuối năm 1975, ông phụ trách Vũng Tàu cùng với đơn vị và năm 1976, ông đã đảm nhiệm công tác tại TP.Hồ Chí Minh, làm biên tập viên cho báo Văn nghệ giải phóng và giữ chức Trưởng đại diện báo Văn nghệ tại phía Nam.
- Năm 2007, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
- Những tác phẩm nổi bật của ông bao gồm: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Đãi cát tìm vàng (1987), Mẹ và em (1987), và nhiều tác phẩm khác...
II. Tác phẩm Đò Lèn
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ Đò Lèn nằm trong tập Ánh Trăng, được viết vào năm 1983 khi Nguyễn Duy trở về quê hương và lưu giữ những ký ức về tuổi thơ.
- Nội dung chính: Bài thơ khắc họa dấu ấn về quê ngoại khó khăn, chịu nhiều tàn phá từ chiến tranh. Thể hiện sự trân trọng cội nguồn, giá trị bền vững và lòng biết ơn sâu sắc, mặc dù muộn màng.
- Phương thức biểu đạt: Bài thơ sử dụng hình thức biểu cảm, kết hợp giữa tự sự và miêu tả.
- Ý nghĩa của nhan đề: Đò Lèn không chỉ là quê ngoại mà còn là nơi gắn kết những ký ức tươi đẹp về tuổi thơ, mang đến cảm xúc đầy sâu lắng đối với người bà vất vả.
III. Gợi ý cho việc đọc hiểu
Bài 1: Tác giả mô tả hình ảnh tuổi thơ của mình ra sao trong bài thơ?
Trả lời:
- Tuổi thơ của tác giả được khắc họa qua những kỷ niệm nghịch ngợm, hồn nhiên, nhưng cũng đầy giằng xé bởi nghèo khó và sự tàn khốc của chiến tranh.
Bài 2: Tình cảm của tác giả dành cho bà được thể hiện như thế nào?
Trả lời:
- Hình ảnh người bà hiện lên qua sự vất vả, hi sinh, và tình cảm của tác giả tràn đầy sâu sắc, mang lại nổi niềm bi thương và xót xa.
Bài 3: Hãy so sánh cách thể hiện tình cảm với người bà trong Đò Lèn và Bếp lửa của Bằng Việt.
Trả lời:
- Đò Lèn: Tình cảm được thể hiện trực tiếp, chân thành và thổn thức qua những ký ức về người bà.
- Bếp lửa: Tình cảm hiện lên thông qua hình ảnh bếp lửa ấm áp, cùng những kỷ niệm thiêng liêng.

6. Bài soạn 'Đò Lèn' của Nguyễn Duy số 2 (Phiên bản mới)
I. Thông tin về tác giả và tác phẩm
1. Tác giả
Nguyễn Duy, với tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, chào đời vào năm 1948 tại vùng đất Thanh Hóa. Thơ ca của ông là sự hòa quyện tài tình giữa cảm xúc trữ tình và những vấn đề thời cuộc, qua đó thể hiện sự mạnh mẽ và sâu sắc trong cách nhìn nhận cuộc sống.
2. Tác phẩm
Đò Lèn, tác phẩm sáng tác vào năm 1983, là một bài thơ tràn đầy cảm xúc, ghi lại những kỷ niệm trong thời thơ ấu của tác giả khi trở về quê hương.
II. Hướng dẫn giải bài
Câu 1 (trang 149 sách giáo khoa Ngữ Văn 12 Tập 1):
* Trong bài thơ, cái tôi của Nguyễn Duy hồi nhỏ được khắc họa qua:
- Hình ảnh cậu bé Duy, sống một cách vô tư tại ngôi làng, mang trong mình những kỷ niệm vui buồn, gắn liền với hình ảnh gần gũi của bà ngoại.
- Những ấn tượng về tuổi thơ:
+ Hương khói trầm,
+ Mùi huệ trắng,
+ Điệu hát văn và bóng dáng cô đồng.
- Bức tranh cuộc sống làng quê bình yên và thân thuộc.
=> Lối kể chân thực, cụ thể, làm nổi bật vẻ đẹp của tuổi thơ.
* Những nét quen thuộc và mới lạ trong cách tác giả hồi tưởng về quá khứ:
- Nét quen thuộc: Hình ảnh cậu bé Duy ngây thơ.
- Nét mới mẻ: Tác giả nhìn lại thời thơ ấu bằng con mắt của người trưởng thành, gắn liền với hình ảnh của bà ngoại.
Câu 2 (trang 149 sách giáo khoa Ngữ Văn 12 Tập 1):
Tình cảm sâu sắc của tác giả dành cho bà được thể hiện qua những từ ngữ và hình ảnh sinh động:
- Hình ảnh của người bà: Thời gian mùa cua xúc tép, gánh chè xanh Ba Trại, cuộc sống buôn bán vất vả.
→ Thể hiện sự lam lũ, tần tảo và nhọc nhằn.
- Sự hồn nhiên của cậu bé khi chưa cảm nhận hết những khó khăn của bà:
+ “Đâu biết”: biểu hiện của sự vô tâm, chưa thật sự thấu hiểu nỗi nhọc nhằn của bà.
+ “Trong suốt”: thể hiện nhận thức trong sáng của trẻ thơ.
+ “Một bên thực”: hình ảnh bà với cuộc sống vất vả,
+ “Một bên hư”: tượng trưng cho tiên, phật và thánh thần.
→ Khắc họa sự vô tư, không ngay lập tức nhận ra nỗi lo toan của người bà.
- Tình yêu của tác giả khi đã trải qua nhiều điều trong cuộc đời:
+ Cho thấy sự trưởng thành trong nhận thức. Cuộc sống không có gì thay đổi: “Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi.”
→ Người cháu thức tỉnh và đau xót khi nhận ra: “khi tôi biết thương bà thì đã muộn, bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.”
=> Sự trưởng thành và thấu hiểu của người cháu.
Câu 3 (trang 149 sách giáo khoa Ngữ Văn 12 Tập 1):
Tình yêu thương chân thành của tác giả thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc sống: tình yêu dành cho bà, tình yêu quê hương, với lối sống có trách nhiệm – sống trọn vẹn với hiện tại và ý thức rõ ràng về quá khứ và tương lai.
Nét đặc sắc:
Người bà vất vả nhưng đáng kính và tràn đầy yêu thương. Hình ảnh của bà trong Đò Lèn của Nguyễn Duy hiện lên giản dị, gần gũi từ những sinh hoạt đời thường như “mò cua xúc tép”...

