1. Essay Analyzing the Work "The Season of Falling Leaves in the Garden" No. 4
Sau một thời gian dài dồn sức cho hai cuộc kháng chiến vệ quốc đi đến thắng lợi, nhân dân ta trở lại quỹ đạo đời sống thời bình với muôn vàn khó khăn bỡ ngỡ. Những quy luật bất thường đã làm nên đặc trưng văn hoá thời chiến giờ không còn phát huy ảnh hưởng nữa. Con người phải đối diện với nhu cầu cơm áo. Đời sống dần lộ ra những phức tạp, bất ổn: nhiều chuẩn mực trở nên lỗi thời, mối quan hệ cá nhân - cộng đồng không đơn giản một chiều như trước, đòi hỏi phải được nhận thức lại.
Những biến động dữ dội từ các nước Đông Âu, sự manh nha của nền kinh tế thị trường đầu thập kỉ tám mươi,... làm nảy sinh biết bao câu hỏi nhức nhối về niềm tin, về cách sống. Tất cả đều đang báo trước nhu cầu đổi mới toàn diện đất nước sẽ được Đảng chính thức phát động năm 1986. Có thể gọi đây là buổi giao thời của hai giai đoạn lịch sử với sự cọ xát, va chạm của các quan niệm, các hệ giá trị cũ - mới.
Nhạy cảm với thời cuộc, một số nhà văn đã kịp thời đưa được hơi thở nóng hổi của hiện thực vào tác phẩm. Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng là trường hợp tiêu biểu. Cùng với Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu và vài ba nhà văn khác, Ma Văn Kháng đã chuyển mối quan tâm từ bình diện các sự kiện lịch sử - chính trị sang bình diện sinh hoạt thế sự, đưa những trăn trở về văn hóa, đạo đức vào trung tâm soi ngắm, khám phá.
Mùa lá rụng trong vườn như nhiều người đánh giá, là hành trình đi tìm câu trả lời cho vấn đề bức thiết: Mỗi con người, mỗi gia đình sẽ phải sống như thế nào trong hoàn cảnh bộn bề hiện tại ? Đoạn trích nằm ở phần đầu tác phẩm, có thể coi là một áng văn đẹp, chuyển tải thành công những suy tư, trăn trở đầy trách nhiệm của tác giả trước một đô thị đang từng giờ từng phút quẫy cựa, tung phá ra khỏi cái trật tự đã trở nên bức bối trì trệ.
Đây thật sự là những trang tươi sáng, cảm động nhất của cuốn truyện mang đậm sắc thái bi kịch nhân văn này. Từ khi nào, cái gia đình nhiều thế hệ vốn yên ấm, thuận hòa của ông giáo Bằng bắt đầu xuất hiện những vết rạn, rồi lung lay, chao đảo? Vì lẽ gì mà một người vợ đảm đang, rất yêu và hãnh diện về chồng như Lí sinh ra bất mãn với gia đình, lao vào những cám dỗ tầm thường?
Sự "nổi loạn" của Cừ - người con trai thứ tư của ông Bằng - đưa anh ta từ lỗi lầm này đến lỗi lầm khác rồi kết thúc bằng cái chết tuyệt vọng, có căn nguyên sâu xa từ đâu?,... Giữa những bức xúc về đói nghèo, về công bằng, tiến bộ, gây nên "cơn sốt vỡ da" của xã hội thời hậu chiến đang làm lung lay nhiều mái ấm gia đình, có biết bao vấn đề cần được xem xét lại một cách tỉnh táo, trong đó có nhu cầu khẳng định giá trị cá nhân và giữ gìn các chuẩn mực văn hóa.
Câu chuyện khép lại khi những người con ông Bằng, sau đám tang cha, đang cố gắng tìm mọi cách để hàn gắn lại những rạn vỡ trong các mối quan hệ vợ - chồng, anh - em, chú - cháu,... khá phức tạp. Bức thư tuyệt mệnh đầy ăn năn của Cừ, sự trả giá đau đớn của Lí, lòng vị tha của Hoài, tình yêu trong sáng của Cần và bản lĩnh văn hoá của những trí thức như Cần, Luận, Phượng liệu có hứa hẹn một tương lai sáng sủa hơn?
Đặt khung cảnh ngày Tết sum họp ở phần đầu tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn, sau sự kiện gia đình vừa nhận tin Cừ bỏ trốn ra nước ngoài, và mấy anh em Đông, Luận bàn cách giấu cha vì sợ ông Bằng không chịu nổi cú sốc này, Ma Văn Kháng vừa giúp bạn đọc sớm tiếp cận chủ đề tác phẩm vừa tạo được hiệu quả thẩm mĩ đáng kể khi khơi dậy ở người đọc nỗi lo âu và cảm giác nuối tiếc vô ngần trước sự phôi pha, băng hoại của những giá trị cổ truyền, để rồi từ bữa Tết sum họp này đã không còn toả hơi ấm trong gia đình ông Bằng nữa.
Ngày Tết ấy sẽ trở thành biểu tượng cho tình người, cho cái đẹp tâm linh mà con người thời hiện đại phải khắc khoải tìm về để tự cân bằng nhịp sống căng thẳng và quá nhiều lí tính. Khẳng định những giá trị cổ truyền, tác giả muốn đề xuất một định hướng văn hoá làm chuẩn cho sự phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu giải phóng cá nhân, đồng thời lí giải vai trò to lớn của gia đình đối với quá trình hình thành nhân cách con người, gián tiếp đối thoại với quan niệm đạo đức một thời quá nhấn mạnh vào ý thức cộng đồng: "hình như có thời kì người ta có ảo tưởng là có thể coi nhẹ các quan hệ gia đình.
Các quan hệ cha con, vợ chồng, anh em,... hình như không có gì phải bàn bạc nữa" (lời Luận). Khuynh hướng củng cố gia đình, gia tộc, theo Ma Văn Kháng, là "dựa vào một nền tảng tinh thần vững bền để chống lại tất cả cái xấu đang làn phá cuộc sống".
Chủ đề tư tưởng toát lên từ khung cảnh sinh hoạt thân thuộc mà rất đỗi thiêng liêng. Thiên nhiên cũng chuẩn bị sẵn cho con người tâm thế giao hòa. Bữa cúng tất niên là thời điểm đặc biệt với mỗi người Việt Nam. Nó là sự kết thúc để khởi đầu cho một năm mơ ước và phấn đấu. Người người hân hoan hướng về nguồn cội bày tỏ tri ân và mong được tiên tổ phù hộ độ trì.
Không gian Tết mang đậm màu sắc văn hóa tâm linh ấm cúng mà trang trọng. Cách chọn thời điểm như vậy tập trung được nhiều nhân vật, bộc lộ được nhiều tính cách, tâm sự mà vẫn thống nhất ở định hướng: làm gì để nuôi dưỡng căn cốt văn hoá của con người.
Mô tả một ngày Tết sum họp, ngòi bút Ma Văn Kháng như thăng hoa trong nhiệt hứng tạo dựng không khí điển hình của một cái Tết cổ truyền. Từng chi tiết được chọn lựa kĩ lưỡng, từng động tác, từng lời của nhân vật đều có khả năng hé mở tâm tính và tâm trạng. Tết mang đậm màu sắc văn hóa tâm linh với không khí đặc trưng bởi sự ấm cúng, sum họp.
Bữa cúng tất niên trong gia đình ông Bằng rõ ràng là còn phản chiếu nhiều nét đẹp chung của truyền thống dân tộc. Nét đẹp đó hiện ra trên cả bình diện vật chất lẫn tinh thần. Lễ cúng bài bản, trang trọng theo đúng nghi thức với khói trầm ngát thơm, bánh chưng xanh buộc lạt điều, mâm ngũ quả, những chén rượu xinh xắn rải ngang trước bàn thờ, ngọn đèn dầu lim dim,...
Có sự thành kính nghiêm cẩn, thiêng liêng một dòng chảy mơ hồ mà xao động đến rưng rưng cảm động. Đó là thời khắc giao hoà giữa hai thế giới: quá khứ và hiện tại, thực và ảo, sống và chết, cõi dương và cõi âm, cõi người và cõi hồn, thể xác và tâm linh,... Bức ảnh những thành viên đã khuất trong gia đình (hình ảnh bà Bằng, anh cả Tường) như khơi lại quá khứ, mở ra cuộc giao cảm kì lạ: "Khói hương và khung cảnh trầm tĩnh đưa hiện tại về quá khứ.
Thoáng cái, ông Bằng như quên hết xung quanh và bản thể. Dâng lên trong ông cái cảm xúc thiêng liêng rất đỗi quen thân và tâm trí ông bỗng mờ nhoà, phiêu diêu lãng đãng gần xa, ẩn hiện tầng tầng lớp lớp những ảnh hình khi tỏ khi mờ, chập chờn như trong chiêm bao". Giây phút này con người như được thanh tẩy để trở nên tinh khiết, đau đáu niềm hướng thiện.
Lời khấn của ông Bằng là tình cảm thiết tha hướng về cội nguồn bằng tất cả lòng biết ơn trân trọng và tâm nguyện đắp bồi, củng cố mái ấm gia đình giữa bao sóng gió. Trong lời khấn ấy có một sợi dây bí ẩn nối kết mọi người, cả kẻ sống người chết, kẻ có mặt và người vắng mặt: dòng chảy của đạo lí, của tình yêu thương chung thuỷ, của ý thức làm người. Quá khứ không tách rời với hiện tại. Tổ tiên luôn đi cùng con cháu.
Tất cả liên kết thành sức mạnh, thành niềm tự hào và trách nhiệm. Nhà văn đã nhìn ra cái gốc gác, cái nền tảng sâu xa gắn bó mỗi cá thể là truyền thống gia đình. Lời khấn của ông Bằng không chỉ hướng đến tri ân người đã khuất, tri ân tổ tiên mà còn tri ân những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Những từ ngữ cổ kính, mang phong cách tôn giáo hoá ("Thưa thầy mẹ đã cách trở ngàn trùng mà vẫn hằng sống cùng con cháu...") in đậm dấu ấn nhà nho mẫu mực.
Nhà nho ấy quay trở về cõi thực, dù trong bầu không khí đoàn tụ, ấm cúng cũng không sao giấu được nỗi đau làm tổn hại danh dự tổ tiên. Ông Bằng mắt "cay sè", lòng "bổn ngộn" khi nghĩ đến người con út tha hoá, tự cô lập mình bằng lối sống bất cần, trở thành kẻ chối từ gốc gác, dối cha lừa vợ. Ông lặng lẽ mà quyết liệt khi gạt tên Cừ (người con lạc loài ấy) ra khỏi lời khấn xin tổ tiên phù hộ.
Có lẽ trong ông, nỗi đau vì truyền thống gia đình bị vấy bẩn còn lớn hơn nỗi đau của người cha mất con. Chi tiết này khiến ngày Tết sum họp năm nay của gia đình ông như là "khúc vĩ thanh" của sự đầm ấm, bình yên, báo trước những bi kịch không lường hết của cuộc sống thời buổi kinh tế thị trường. (Có người nói Ma Văn Kháng đã bày "mặt trận" giữa một gia đình bé nhỏ chỉ có thứ vũ khí thuần tuý là đạo đức và văn hoá với những tác động tiêu cực của cả một xã hội đang trong cơn "trở dạ").
Có một xúc cảm thật đẹp được gợi lên từ mâm cỗ tất niên: lòng kính trọng tổ tiên, niềm âu yếm dành cho anh em, con cháu, bạn bè, tình yêu cuộc sống, nét tài hoa,... đều được con người gửi vào mâm cỗ ấy (Lí và mọi người đã tính toán công phu, đã nỗ lực hết mình để có thể chu toàn). Nó phải thoả mãn đủ các tiêu chí: đầy đặn gợi sự no ấm, đẹp đẽ gợi sự lịch lãm, sang trọng gợi niềm thành kính;...
Dường như văn hoá ẩm thực của người Việt, mà nổi tiếng là của người Hà Nội đã tập trung trọn vẹn trong mâm cỗ tất niên nhà ông Bằng: gà luộc, giò, nem, chả, măng hầm chân giò, miến nấu lòng, vịt quay ướp húng lìu, gà tần hạt sen,... Người ta không chỉ ăn bằng miệng mà còn ngắm bằng mắt, không chỉ cốt cho no mà còn thưởng thức cái tinh tế, cái tài hoa, cái đảm đang của người làm cỗ, cái kì diệu của hương vị sản vật quê hương xứ sở.
Sức mạnh tâm linh khiến cho các nghi thức cúng bái ngày Tết trở thành thiêng liêng, hấp dẫn. Nó như một dòng chảy thầm thì mà bí ẩn dẫn lối cho con người tìm về nguồn cội, tắm mình trong tình thương yêu, đùm bọc chở che của quan hệ máu mủ ruột rà. Nó hoá giải mọi cách bức thế tục. Sự xuất hiện của chị Hoài và thái độ mừng rỡ vừa vồn vã, sôi nổi, vừa ý nhị, xót xa của mọi người là đỉnh điểm hạnh phúc sum họp.
Bữa cỗ tất niên thành bữa tiệc đoàn viên, bữa tiệc của lòng người. Hoài hiện ra đột ngột không báo trước (chị đã đi bước nữa do anh Tường chồng chị hi sinh từ thời đánh Mĩ) không chỉ đem lại niềm vui ngỡ ngàng cho các thành viên gia đình ông Bằng mà còn khiến người đọc cũng thấy rưng rưng. Hoá ra chỉ cần có tấm lòng, chỉ cần biết nghĩ về nhau là thế giới vụt ấm áp, thơm thảo, là bất hạnh vợi bớt, nỗi đau mất mát được xoa dịu.
Hai người em dâu (Lí và Phượng) ao ước được gặp chị Hoài thì sung sướng, "reo lên", ríu rít, hồn nhiên như hai đứa trẻ. Phượng "sôi nổi, nồng hậu", "mừng rỡ", "nắm tay",... Lí "ôm chầm" lấy chị "nức nở". Những lời hỏi thăm, những câu trò chuyện tới tấp,... Mọi người đều muốn biết công việc làm ăn, sức khoẻ của nhau - một cách quan tâm rất giản dị mà hậu tình, xa lạ với thói ích kỉ, lạnh lùng đang có nguy cơ thành phổ biến trong giao tiếp thời hiện đại.
Xúc động nhất là cảnh gặp gỡ giữa ông Bằng và chị Hoài. Ông Bằng sững lại, "mặt thoáng một chút ngơ ngẩn", mắt "chớp liên hồi", môi "lật bật không thành tiếng", như "sắp khóc oà", "giọng khê đặc, khàn rè",... Còn chị Hoài thì "gần như không chủ động được mình", "lao về phía ông Bằng, quên cả đôi dép, đôi chân to bản, gót nứt nẻ thâm đen, giẫm trên nền đá lạnh", "thốt lên một tiếng như nấc". (Cái vẻ cuống quýt của Hoài mới đáng quý làm sao! Nếu chị không vì hấp tấp mà quên đi dép, làm sao mọi người thấy hết cuộc sống lam lũ của chị ?).
Nỗi xúc động không chỉ do xa cách quá lâu, hay do sự gặp gỡ bất ngờ mà chủ yếu xuất phát từ tình cha con họ dành cho nhau. Trong niềm vui đoàn tụ, nhói buốt một cái tên, một hình bóng không ai nỡ thốt ra. Hai cha con gặp nhau mà như đang đón nhận lại nhau, như bị cái tình ruột thịt thiêng liêng dẫn dắt một cách vô thức, không sao kiểm soát được hành động và cảm xúc.
Cảnh tượng cảm động này lan truyền ra xung quanh, khiến "Phượng quay mặt đi, mắt ngấn lệ, không nỡ nhìn cảnh gặp gỡ, không nỡ thấy đôi gót chân nứt nẻ của chị Hoài, ngực dội lên những cơn sóng nghẹn ngào và hai cánh mũi se se cay". Biệt tài của Ma Văn Kháng trong miêu tả tâm lí là lấy cảm xúc này để khơi gợi cảm xúc khác, lấy tình thương để kêu gọi tình thương (Phượng ứa nước mắt trước đôi gót chân nứt nẻ của Hoài còn người đọc ứa nước mắt vì tấm lòng đồng cảm tinh tế của Phượng).
Tình yêu thương biểu hiện qua phút gập gỡ, sum họp của một gia đình đã thể hiện tập trung nét đẹp trong văn hoá ứng xử, văn hoá sống của người Việt Nam: coi trọng đạo lí, tình cảm. Khắc họa không khí chung, nhà văn còn tạo "điểm nhấn" và "dư ba" bằng việc đưa lên "cận cảnh" chân dung những con người có tâm hồn nhân hậu, biết nuôi dưỡng ngọn lửa ấm trong mỗi gia đình (Phượng, Hoài và ông Bằng).
Chị Hoài tiêu biểu cho vẻ đẹp của người nông dân chất phác, xởi lởi, thật thà nhưng cũng không kém hiểu biết và bao dung. Chị "đẹp người, đẹp nết", "dù đã có gia đình riêng, những quan hệ riêng và lo toan riêng" nhưng vẫn không quên căn nhà đã từng ghi dấu một thời hạnh phúc và đau khổ của chị, "chị có quyền quên mà không ai được trách cứ". Chín năm xa cách, chị vẫn nguyên ý thức của người dâu cả, không cho mình quyền quên gia đình người chồng cũ, vẫn giữ liên lạc để biết tình hình của mọi người.
Tạm gác lại công việc bộn bề của gia đình riêng, chị trở lại nhà ông Bằng đúng dịp đón năm mới là bởi chị biết gia đình có chuyện không hay và nhất là "sợ ông buồn". Hoài khiến Phượng "cảm kích bất ngờ" khi nhận ra "người phụ nữ tưởng như đã cắt hết mối dây liên hệ với gia đình này, vẫn giao cảm, vẫn chia sẻ buồn vui và cùng tham dự cuộc sống của gia đình này". Hoài hiện thân cho lối sống trọng nghĩa tình, "có thuỷ có chung", như tấm gương mà khi soi vào đấy, nhiều người phải giật mình.
Sự xuất hiện của chị tác động mạnh vào các thành viên khác của gia đình ông Bằng. Không chỉ vậy, người phụ nữ ấy bằng tình yêu thương nồng hậu còn gắn kết cả cái gia đình mới của mình với gia đình cũ. Chồng con chị cũng yêu thương và quan tâm tới gia đình ông Bằng. Họ lấy tình nghĩa làm phương châm ứng xử. Tấm lòng trung hậu của họ xoá tan mọi nỗi hoài nghi về quan hệ "khác máu tanh lòng".
Ông Bằng cũng là một nhân vật lí tưởng của Ma Văn Kháng. Là người luôn lo lắng cho sự bền vững gia đình, hơn ai hết, ông ý thức được những nguy cơ làm suy thoái đạo đức, làm rạn nứt truyền thống quý báu mà ông muốn bảo toàn. Ông thường xuyên trăn trở về mối quan hệ giữa gia đình và xã hội. Nét ưu tư trầm mặc toát lên từ hình dong của ông đồ - một nhà hiền triết, từ cách ăn mặc trầm nghiêm, chỉnh tề, nhưng nhiều hơn cả là từ cách ứng xử, từ lời ăn tiếng nói nhẹ nhàng mà đắn đo cẩn trọng và một đời sống tâm linh vững vàng.
Những đoạn độc thoại nội tâm của ông thể hiện rõ ý thức di dưỡng tinh thần hướng về cội nguồn văn hoá dân tộc. Ông là mắt xích chính nối kết gia đình ấy với quá khứ và những giá trị nhân văn tốt đẹp. Ông như một biểu tượng của trí thức, bổ sung vào cái văn hoá thôn quê chất phác của Hoài. Hai con người ấy xuất hiện trong đoạn trích để tôn lên vẻ đẹp của nhau và lan toả ánh sáng hướng thiện sang những thành viên khác, hoàn tất trọn vẹn tiêu chí nhân cách mà nhà văn đề xuất.
Ma Văn Kháng không thật sự sắc sảo trong tiểu thuyết, nhưng Mùa lá rụng trong vườn là một thành công quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông. Nó xứng đáng được ghi nhận như một tác phẩm chứa nhiều dự cảm sáng suốt về thời cuộc và về văn chương ở thời điểm nó ra đời.
Tác phẩm đánh dấu sự trở về với những đề tài có tính phổ biến trong văn chương nhân loại, sự gia tăng "chất tiểu thuyết" cho tiểu thuyết Việt Nam vốn vừa đi qua một giai đoạn thiên về chất sử thi - lãng mạn. Tác phẩm có cốt truyện và cách kể chuyện khá đơn giản, dung dị. Điều quan trọng là nhà văn đã "bắt" được rất nhạy nhu cầu mới của công chúng: đòi hỏi văn chương phải gần gũi với hiện thực hơn, "đời" hơn.
Trong những chuyện thường ngày, ông phát hiện ra bao điều nghiêm túc, sâu sắc. Từ cảnh sum họp ngày Tết, nhà văn cho chúng ta nhìn thấy vẻ đẹp của văn hóa truyền thống, thấy vai trò của gia đình như một nền tảng vững chắc của nhân cách cá nhân. Nếu đọc toàn bộ cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, chúng ta còn thấy nhân vật của Ma Văn Kháng không chỉ được khai thác sâu, tinh tế về mặt tâm lí mà còn được chú ý nhiều ở khả năng tự ý thức, biết sử dụng một thứ ngôn ngữ giàu luận lí nhưng cũng rất cá tính, linh hoạt.
Chất triết lí trong tiểu thuyết của ông không đậm đặc như ở Nguyễn Khải nhưng cũng luôn có ý nghĩa chi phối cách tổ chức trần thuật. Văn của Ma Văn Kháng lột tả khá trung thực cái không khí thời đại mà các nhân vật sống.
Vì tác phẩm chú trọng vào tâm lí nhân vật, nên điểm nhìn trần thuật bắt đầu được di chuyển sang nhân vật. Người kể chuyện nhập vào nhân vật để thuật kể, bình luận và điểm nhìn này thay đổi rất linh hoạt (từ người kể chuyện ngôi thứ ba giấu mặt sang Luận, ông Bằng, có lúc là Lí, Cần, Cừ,...). Đây là quan điểm trần thuật hiện đại, mở ra khả năng thể hiện thế giới nội tâm phong phú, tạo sự đa dạng cho điểm nhìn, tăng cường tính dân chủ, kích thích đối thoại.
Đoạn trích dựa trên nền cốt truyện, ít biến cố, mà chủ yếu bộc lộ tâm trạng, tâm linh nên nhịp điệu trần thuật chậm rãi, tương hợp với giọng văn trầm lắng, dạt dào cảm xúc, đậm đặc nghĩa tình. Ngày Tết sum họp kết thúc bằng dư âm của niềm vui, niềm tin tưởng, dù không hoàn toàn nhẹ nhõm, thanh thản.
Ma Văn Kháng đã gửi gắm vào đây quan niệm của ông về chuẩn mực văn hóa gia đình - thứ vũ khí mà mỗi gia đình hiện đại cần phải có để có thể đề kháng, chống chọi lại với những va đập của một xã hội đầy biến động.

2. Bài văn phân tích tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn" số 5
"Mùa lá rụng trong vườn" của Ma Văn Kháng mang lại cho người đọc một cảm nhận nhẹ nhàng, đượm nét truyền thống và đầy lắng đọng.
Câu chuyện xoay quanh cuộc sống của gia đình ông Bằng – một gia đình ba thế hệ, có truyền thống, sống tại Hà Nội trong bối cảnh thời hậu chiến và cơ chế chính trị bao cấp. Ông Bằng có năm người con, trong đó Tường, người con đầu tiên, đã hy sinh trong chiến tranh. Hoài, vợ của Tường, là một người phụ nữ nết na, hiền hậu. Sau một thời gian dài đau khổ vì mất chồng, chị Hoài được gia đình cho phép tái hôn. Tuy nhiên, tâm hồn chị vẫn gắn bó với gia đình ông Bằng.
Hoài – vợ của một liệt sĩ. Chấp nhận sự vô thường, chị tái giá nhưng vẫn giữ gìn sự thuỷ chung với gia đình chồng. Sau một mùa lá rụng, chị trở về thăm lại gia đình cũ vào dịp chiều tất niên. Tên Hoài, vốn tượng trưng cho sự ổn định, thuỷ chung, hiện lên trong tác phẩm vào khoảnh khắc cuối cùng của một năm cũ sắp qua.
Chị mang lại cho khu vườn của gia đình chồng một không khí bình yên, như một cách bù đắp cho những mất mát và thay đổi trong cuộc sống, thích nghi với nhịp điệu gấp gáp của đời sống hiện đại. Câu nói ngắn gọn nhưng sâu sắc của chị Hoài ở chương cuối tác phẩm – “Bao giờ cậu Cần cưới vợ, cô Phượng ở cữ, cô Lí về, nhớ điện cho tôi lên” – đã khắc họa một cách sống vị tha, giản dị của một người phụ nữ đã chọn cuộc sống vì gia đình.
Như ba nhân vật Đông, Lí và Luận đã nhận định: “Quan hệ của chị ở gia đình này đã thuộc về quá khứ. Kỉ niệm của chị ở đây đẹp nhưng buồn. Chị có quyền quên mà không ai được trách cứ.” Tuy nhiên, tác phẩm đã cho thấy một chị Hoài của hiện tại, vẫn chu đáo, lo lắng cho gia đình chồng. Tình cảm ấy đã khiến mọi người trong gia đình ông Bằng cảm động. Tác giả Ma Văn Kháng khéo léo miêu tả những phẩm chất nhân hậu, thuỷ chung của người phụ nữ đã từng là dâu trưởng trong gia đình này.
Ma Văn Kháng đã dành cho nhân vật Hoài một cách giới thiệu đầy tinh tế, vừa trực tiếp qua ngoại hình giản dị nhưng tươi tắn: “một phụ nữ nông thôn trạc năm mươi, người thon gọn trong cái áo bông chần hạt lựu. Chiếc khăn len thắt nâu ôm lấy khuôn mặt rộng có đôi mắt hai mí đằm thắm và cái miệng tươi.”, vừa gián tiếp qua những hồi ức và cảm nhận của mọi người trong gia đình: “Chị Hoài, vợ anh cả Tường liệt sĩ.”; “Chị Hoài, dâu trưởng, nết na, thuỳ mị.” Chín năm chưa gặp lại cha chồng, chị Hoài đã không kìm được cảm xúc khi gặp lại ông Bằng, vội vã lao về phía ông, quên cả đôi dép. Tuy nhiên, trong lễ cúng gia tiên, chị đã thực sự trở về với niềm tin trong sáng cũ, khẳng định mình vẫn là một phần không thể tách rời của gia đình.
Ma Văn Kháng muốn truyền tải một thông điệp về khả năng giữ gìn những giá trị truyền thống trong cuộc sống hiện đại. Con người hoàn toàn có thể hòa nhập với cái mới mà vẫn bảo tồn được những giá trị tinh tuý của quá khứ.

3. Bài văn phân tích tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn" số 6
Đọc Ma Văn Kháng, ta luôn bị cuốn vào một thế giới chưa hoàn toàn thay đổi, dù không có những biến chuyển rõ rệt. Những câu chuyện mà ông kể không ồn ào, không kêu gọi sự chú ý, nhưng lại làm nổi bật một thời kỳ, một giai đoạn mà con người đang đứng giữa ranh giới của cái cũ và cái mới. Mùa lá rụng trong vườn chính là một tác phẩm như vậy.
Người đọc dễ dàng cảm nhận được sự biến đổi của khu vườn khi mùa lá rụng, và cũng nhận thấy sự thay đổi của con người, không còn như xưa. Chính sự chuyển mình ấy khiến ta cảm nhận rõ rệt nỗi lo lắng sâu sắc về sự suy yếu của các giá trị truyền thống trong bối cảnh thay đổi của xã hội.
Trong đoạn trích từ sách Ngữ văn 12 (lấy từ chương 2 của tiểu thuyết), tác giả chỉ mô tả một khoảnh khắc ngắn ngủi – chiều tất niên – trong không gian hẹp của gia đình ông Bằng. Chính khoảnh khắc đó lại mở ra những suy ngẫm sâu sắc về những gì đang dần biến mất trong xã hội và thời đại. Buổi chiều tất niên của gia đình ông Bằng, giống như bao gia đình Việt Nam khác, đầy bận rộn, hối hả nhưng cũng rất đầm ấm.
Gia đình quây quần bên mâm cơm tất niên, chuẩn bị dâng lên bàn thờ tổ tiên. Bức tranh ấy phản ánh những giá trị truyền thống không thể phủ nhận: sự gấp gáp, lo toan, đồng thời cũng là sự níu kéo những giây phút cuối cùng của năm cũ và khát vọng về một năm mới đầy hy vọng.
Mọi người đều có cảm giác như mọi thứ chỉ mới bắt đầu. Nhân vật Lí là người thể hiện rõ nhất không khí tất niên, luôn bận rộn, miệng luôn lầm bầm mắng yêu chồng, than phiền về nhà cửa bề bộn, công việc dồn dập, khen chê hàng hóa, bàn luận mọi thứ. Hình ảnh của cô Lí gợi lên bóng dáng của rất nhiều phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là những phụ nữ ở thành thị trong những ngày cuối năm: lo toan mọi thứ, chăm chút từng chi tiết, quán xuyến mọi công việc.
Có một nét đẹp đáng quý trong đoạn trích này, đó là khát vọng đoàn tụ, sum vầy. Tết đến, ai ai cũng mong muốn trở về nhà, nơi có cha mẹ, anh em, nơi gắn bó với những kỷ niệm vui buồn. Với mỗi người, gia đình là nơi bình yên để quay về sau những ngày lao động mệt mỏi. Các thành viên trong gia đình ông Bằng cũng không phải ngoại lệ. Đông, Lí, Luận, Phương, ông Bằng… tất cả đều mong muốn được đoàn tụ, được chia sẻ những cảm xúc, được cảm nhận sự ấm áp của tình thân.
Sự xuất hiện của chị Hoài chính là sự thỏa mãn những mong đợi ấy. “Sự việc diễn ra đột ngột, Đông, Lí, Luận vội vã từ phòng khách chạy ra cổng, thấy chị Hoài thật rồi mà vẫn ngờ ngợ, không tin vào mắt mình”. Chị Hoài xuất hiện bằng xương bằng thịt, khiến mọi người đều bất ngờ, hạnh phúc, và xôn xao. Chị không chỉ đẹp đẽ, thùy mị mà còn là biểu tượng của một quá khứ thuần khiết mà cả gia đình ông Bằng trân trọng, yêu quý.
Chị Hoài là một mảnh ghép của quá khứ, giữ vững những giá trị xưa cũ mà không gì có thể phá vỡ. Đối với gia đình ông Bằng, chị là một bảo vật vô giá mà họ luôn cảm thấy an tâm, bảo vệ mãi mãi. Mặc dù cuộc gặp gỡ trong buổi chiều tất niên của gia đình ông Bằng có vẻ bình thường, nhưng lại đầy cảm xúc, với những kỷ niệm ùa về, những câu chuyện dồn dập. Ai cũng muốn chia sẻ, muốn bày tỏ, muốn giữ ấm những bàn tay thân thương.
Buổi tụ họp này không chỉ là sự gặp gỡ của những người còn sống mà còn là sự kết nối tâm linh với những tổ tiên đã khuất. Mâm cơm tất niên chính là nơi thể hiện lòng kính trọng đối với tổ tiên, và lời khấn của ông Bằng là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa thế hệ đi trước và con cháu sau này.
Đoạn trích này không chỉ kể về những thay đổi trong một gia đình mà còn là lời cảnh tỉnh về sự suy yếu của những giá trị truyền thống trước những biến động của thời cuộc. Mâm cơm cuối năm, những giây phút sum họp, và sự xuất hiện đột ngột của chị Hoài chính là hình ảnh biểu trưng cho sự duy trì, bảo vệ các giá trị gia đình, cũng như nỗi lo sợ rằng những giá trị ấy có thể bị xói mòn theo thời gian.
Gia đình ông Bằng, mặc dù vẫn giữ gìn những phong tục truyền thống, nhưng cũng không thể tránh khỏi những xáo trộn do xã hội thay đổi. Lí đã không còn như xưa, cô đã thay đổi và bắt nhịp với sự thay đổi chóng mặt của thời cuộc. Những thay đổi trong gia đình cũng như trong xã hội đang tác động mạnh mẽ lên các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình ông Bằng, khiến cho tình cảm gia đình không còn gắn bó như trước.
Đặc biệt, sự thay đổi này cũng làm biến dạng những lý tưởng sống, những giá trị tinh thần tưởng chừng như vững chắc. Những mâu thuẫn trong gia đình ông Bằng chỉ là phần nổi của sự thay đổi rộng lớn hơn, của một xã hội đang trong quá trình chuyển mình, và là sự phê phán mạnh mẽ của Ma Văn Kháng về một thế giới không còn nguyên vẹn.
Ma Văn Kháng đã rất thành công trong việc vẽ nên bức tranh gia đình nhỏ, nhưng cũng phản ánh được một xã hội rộng lớn hơn với những biến động không ngừng. Những thay đổi trong gia đình ông Bằng, từ mâm cỗ tất niên cho đến những cuộc gặp gỡ và những chấn động tâm lý, phản ánh những lo lắng sâu sắc về sự mất mát, sự đổi thay của các giá trị truyền thống trong thời đại mới.
Trích đoạn này nói về cuộc gặp gỡ cảm động giữa chị Hoài và gia đình chồng sau gần chín năm xa cách. Gia đình không còn sợi dây tình cảm chặt chẽ như trước, nhưng hình ảnh người dâu trưởng thảo hiền vẫn luôn tồn tại trong trái tim các thành viên. Vào lúc buổi chiều ba mươi Tết, gia đình mong nhớ chị Hoài, mong có chị trong buổi sum họp. Thật bất ngờ, chị Hoài xuất hiện đột ngột, làm cả nhà sững sờ. Mọi người nửa tin nửa ngờ nhưng vui mừng khôn xiết.
Cuộc gặp gỡ giữa chị Hoài và ông Bằng thật xúc động. Dù không phải ruột thịt, nhưng tình cảm gia đình chân thành, đầy đạo nghĩa, không thể phai mờ bởi thời gian và khoảng cách. Hình ảnh chị Hoài lao về phía ông Bằng, mắt ướt ngấn, và lời nói nghẹn ngào của ông, đều cho thấy tình yêu thương không thể thay đổi qua năm tháng.
Bữa cơm tất niên được dọn ra, ngôi nhà ngập tràn không khí thiêng liêng của những ngày Tết, và lời khấn của ông Bằng thể hiện lòng thành kính, biết ơn với tổ tiên. Tất cả như một mạch nối liền quá khứ và hiện tại, chứng tỏ rằng tổ tiên vẫn sống mãi trong lòng con cháu.
Trong những giọt nước mắt mừng vui và tiếc thương, có sự thấu hiểu về sự thay đổi của thời gian và con người. Nhưng qua đó, giá trị gia đình, tình cảm gắn bó giữa các thành viên vẫn là điều thiêng liêng, trân trọng.

4. Bài văn phân tích tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn" số 7
Nếu bạn là người yêu thích những giá trị truyền thống xưa cũ, mong muốn tìm về những nét đẹp cổ kính, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, thì những tác phẩm tiểu thuyết của nhà văn Ma Văn Kháng như: Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải, Mùa lá rụng trong vườn,… sẽ là lựa chọn không thể bỏ qua.
Với những tác phẩm này, Ma Văn Kháng không chỉ kể chuyện mà còn lồng ghép những mô tả sâu sắc về đời sống qua các giai đoạn phát triển của đất nước. Trong đó, nổi bật là cuốn tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn”, với câu chuyện về một gia đình gia giáo trong thời kỳ đất nước chuyển mình sang nền kinh tế thị trường. Những biến chuyển mạnh mẽ của xã hội tác động đến đời sống và suy nghĩ của các thế hệ trong gia đình, đặc biệt là thế hệ ông Bằng, những người già đang vật lộn giữa sự đổi mới và truyền thống.
Ông Bằng là hình ảnh tiêu biểu của những người thuộc thế hệ cũ, với lối sống được hình thành từ những giá trị cổ truyền. Thế nhưng, trước sự thay đổi của xã hội, ông và những người như ông dần trở nên lạc lõng với những giá trị cũ, trong khi thế hệ trẻ lại tìm kiếm những điều mới mẻ hơn. Câu chuyện của ông Bằng và gia đình là một bức tranh sống động về sự va đập giữa hai nền văn hóa, giữa cái cũ và cái mới.
Chúng ta cũng thấy trong tiểu thuyết một bức tranh ấm áp về gia đình vào dịp Tết. Ngày Tết vẫn là thời gian để gia đình tụ họp, dù có những thay đổi, sự đoàn tụ vẫn luôn được coi trọng. Các con dâu, con gái về lại để chuẩn bị mâm cơm, đón Tết cùng ông bà. Dù đã xa cách lâu ngày, tình cảm gia đình vẫn bền chặt, sự đón nhận của mọi người đối với chị Hiền, dù không còn là vợ của anh Tường, vẫn ấm áp như xưa. Đặc biệt, chị Hiền đã trở thành cầu nối tình cảm trong gia đình, mang lại sự đoàn viên và những ký ức thân thương ngày Tết.
Cảnh đoàn viên của gia đình ông Bằng không chỉ là sự gặp lại, mà còn là sự gắn kết tình cảm qua những cử chỉ, hành động bình dị mà đầy ý nghĩa. Từ cách chị Hiền chia sẻ quà quê đến việc hỏi han từng người, tất cả đều thể hiện một tình cảm sâu sắc không dễ phai mờ dù thời gian có trôi qua. Đó là sự trở về của một người con dâu đáng kính, trong một không khí gia đình đầy ắp yêu thương và sự đoàn viên vào dịp Tết.

5. Bài văn phân tích tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn" số 8
Tiểu thuyết "Mùa lá rụng trong vườn" của Ma Văn Kháng là một trong những tác phẩm tiêu biểu được độc giả yêu thích trong giai đoạn đổi mới cuối thế kỷ 20. Đoạn trích từ chương II của tác phẩm này bày tỏ sự tiếc nuối trước những giá trị truyền thống đang dần phai nhạt trong xã hội thay đổi mạnh mẽ.
Với giọng văn ấm áp, đầy cảm xúc, tác giả dẫn dắt người đọc trở về một buổi chiều cuối năm trang nghiêm, tràn đầy không khí truyền thống. Trong không gian ấy, những giá trị văn hóa đặc trưng của người Việt vào dịp Tết hiện lên rõ nét: sự đoàn viên, lễ cúng tổ tiên và bữa cơm tất niên với những lời nguyện cầu tốt đẹp cho gia đình.
Chị Hoài, vợ của một liệt sĩ, sau khi tái giá vẫn giữ trọn lòng thủy chung với gia đình nhà chồng. Dù đã lập gia đình mới, chị vẫn trở về thăm gia đình ông Bằng đúng vào chiều tất niên, như một chiếc lá trở về cội nguồn.
Nhân vật chị Hoài được tác giả khắc họa vô cùng chi tiết. Chị là một phụ nữ nông thôn khoảng 50 tuổi, thon gọn trong chiếc áo bông hạt lựu, với khuôn mặt hiền hậu, đôi mắt sáng và nụ cười tươi tắn. Chị hiện lên giản dị nhưng đầy sức sống, phản ánh vẻ đẹp thanh thoát và trong sáng.
Chị từng là dâu trưởng trong gia đình ông Bằng, giờ đã có gia đình riêng nhưng trong trái tim vẫn luôn dành một góc nhỏ dành cho gia đình cũ. Trong lòng mọi người, hình ảnh của chị Hoài vẫn sống mãi như một người con dâu mẫu mực, đẹp người đẹp nết.
Khi chị Hoài trở về, cả gia đình ông Bằng đều vui mừng. Phượng nồng nhiệt nói: "Em mừng quá, chị Hoài ơi, để em xách tay nải cho". Lý xúc động, ôm chầm lấy chị dâu: "Đúng là có linh tính. Em vừa nói ước gì chị Hoài về mà bây giờ chị đã đến!"
Cuộc gặp gỡ đầy cảm xúc giữa chị Hoài và các em chồng thật sự xúc động. Phượng nhắc lại những kỷ niệm gần mười năm trước, Luận hỏi chị đủ thứ chuyện về quê hương. Chị Hoài kể lại chuyện công việc, gia đình, những thông tin về các thành viên trong nhà. Cảm nhận được tình cảm từ gia đình, chị Hoài đã không ngần ngại mang quà quê đến, gồm gạo nếp và giỏ thủ do chồng chị làm. Chị và các em trò chuyện vui vẻ, thắm tình gia đình.
Cuối cùng, ông Bằng xuống và nhìn thấy chị Hoài, xúc động đến mức không kìm nổi nước mắt. Chị Hoài gọi ông bằng tiếng “Ông” nghẹn ngào, khiến ông Bằng nghẹn ngào đáp lại. Cảnh tượng đó khiến mọi người không cầm được nước mắt, và Phượng cũng không giấu được xúc động.
Trong không khí ấm cúng của gia đình vào đêm Tết, mọi người cùng nhau chuẩn bị lễ cúng tổ tiên, tưởng nhớ và tri ân tổ tiên. Nỗi buồn của năm cũ như tan biến, chỉ còn lại niềm vui hân hoan, sum vầy trong mái ấm gia đình.
Thông qua cuộc gặp gỡ của chị Hoài, tác giả đã khéo léo gửi gắm thông điệp về giá trị của gia đình và truyền thống người Việt. Câu chuyện như một minh chứng về tình yêu gia đình, tình nghĩa thủy chung mà người Việt vẫn luôn gìn giữ trong xã hội hiện đại.
6. Bài văn phân tích tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn" số 1
Ma Văn Kháng từng chia sẻ: "Không ai chọn thời đại, hoàn cảnh để sinh ra và sống với nó cả". Ông được biết đến là người có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Việt Nam hiện đại, là một biểu tượng của nền văn học với những tác phẩm nổi bật, tiếp tục đóng góp lớn cho sự nghiệp văn chương nước nhà dù đã cao tuổi. Tiểu thuyết "Mùa lá rụng trong vườn" của ông, xuất bản năm 1985, là một trong những tác phẩm đặc sắc của ông.
Với bối cảnh gia đình truyền thống vào những năm 80 của thế kỷ XX, khi đất nước vừa trải qua chiến tranh và bắt đầu có những bước thay đổi mạnh mẽ, tác phẩm phản ánh chân thực những biến động xã hội trong thời kỳ đó và tác động của nó lên các gia đình, những tế bào của xã hội.
Đoạn trích trong chương II của tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn diễn ra vào chiều 30 Tết năm Bính Tuất, kể về chị Hoài – vợ liệt sĩ Tường, con trưởng của ông Bằng, nay đã tái hôn. Mặc dù đã có gia đình mới, chị Hoài vẫn không quên về quê thăm gia đình chồng cũ. Chị nhận được tình yêu thương nồng nhiệt từ gia đình ông Bằng, những câu hỏi thăm của người em trai, em dâu khiến chị xúc động nghẹn ngào.
Khi cuộc trò chuyện giữa chị Hoài và ông Bằng diễn ra, mâm cỗ cúng gia tiên đã được chuẩn bị xong. Mâm cỗ ngày Tết thật sự là rất tươm tất. Qua câu chuyện này, Ma Văn Kháng bày tỏ sự tôn trọng đối với lòng thủy chung, tình nghĩa và những giá trị truyền thống tốt đẹp của người dân Hà Nội.
Nhân vật chị Hoài, một đứa con tinh thần mà tác giả rất yêu quý, được khắc họa rõ nét. Chị là vợ của một liệt sĩ, mặc dù đã tái hôn nhưng vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp với gia đình chồng cũ. Chị trở về thăm gia đình đúng vào 30 Tết. Ma Văn Kháng đã miêu tả chị với những chi tiết tinh tế: một người phụ nữ nông thôn, độ tuổi khoảng 50, dáng người thon gọn trong chiếc áo bông trần hạt lựu, với khuôn mặt rộng, đôi mắt sâu lắng và nụ cười tươi tắn.
Chị hiện lên một cách giản dị nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp tươi sáng, thanh thoát. Dù đã có gia đình riêng, chị vẫn giữ trong lòng một góc nhỏ dành cho gia đình ông Bằng, những kỷ niệm ấm áp vẫn luôn sống mãi trong lòng các thành viên trong gia đình này. Mỗi người trong gia đình đều nhớ về một người chị dâu đẹp người, đẹp nết.
Về thăm gia đình ông Bằng, chị mang quà quê là gạo nếp và giỏ thủ do chồng hiện tại làm. Khi gặp lại ông Bằng kính trọng và yêu thương, chị xúc động đến mức không kịp nhớ đến đôi dép của mình, tiến về phía ông rồi dừng lại khi chỉ còn cách ông vài bước. Tiếng gọi "Ông!" của chị nghẹn ngào. Sau khi ông Bằng lui ra, chị nhanh chóng tiến đến bàn thờ tổ tiên, chắp tay cầu nguyện và hỏi han mọi người trong gia đình.
Với những hành động đầy tình cảm và sự quan tâm đến mọi người, chị Hoài thể hiện lòng thủy chung, tình nghĩa sâu nặng với gia đình chồng cũ, coi họ như những người thân trong gia đình. Đó chính là vẻ đẹp đích thực của người phụ nữ Việt Nam.
Ma Văn Kháng tiếp tục sử dụng ngòi bút điêu luyện để miêu tả nhân vật ông Bằng, với ngoại hình cao gầy nhưng trang trọng, chỉnh tề, gương mặt ánh lên những cảm xúc đặc biệt trong giây phút đầu năm mới. Khi nghe tin chị Hoài lên, ông Bằng sững sờ, ánh mắt ngơ ngác, rồi đôi mắt chớp liên hồi, miệng ông bật ra những âm thanh không thành tiếng, dường như sắp khóc. Giọng ông khàn đặc, nghẹn ngào: "Hoài đấy ư, con?". Nỗi vui mừng khôn tả khi gặp lại con dâu trưởng được ông miêu tả vô cùng xúc động.
Khi mâm cỗ thịnh soạn được dọn ra, mọi người quây quần bên nhau. Ông Bằng đứng trước bàn thờ tổ tiên, chìm vào dòng cảm xúc tri ân. Ông quên hết mọi thứ xung quanh, lặng lẽ nhắc về quá khứ để tỏ lòng biết ơn cha mẹ và tổ tiên. Ông không chỉ nhớ về quá khứ mà còn kết nối quá khứ với hiện tại, với con cháu. Như vậy, ông Bằng là cầu nối vững chắc giữa quá khứ và hiện tại của gia đình trong giây phút thiêng liêng đó. Ông là hình mẫu của đạo đức gia đình.
Tổng kết lại, qua đoạn trích "Mùa lá rụng trong vườn", Ma Văn Kháng đã xây dựng một cấu trúc câu chuyện hợp lý để giúp người đọc cảm nhận được những giá trị truyền thống trong gia đình người Việt. Tác phẩm khắc họa sâu sắc tình yêu gia đình, tình nghĩa thủy chung, những giá trị đẹp đẽ của tâm hồn người Hà Nội. Câu chuyện là một hình ảnh sinh động về một gia đình giàu đạo lý và tình thương yêu bền chặt.

7. Bài văn phân tích tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn" số 2
Ma Văn Kháng, sinh năm 1936 tại làng Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội, với tên khai sinh là Lê Trọng Đoàn, là một nhà văn nổi bật với nhiệt huyết và sức trẻ. Ông cũng là một trong những cây bút tiên phong trong công cuộc đổi mới văn xuôi Việt Nam sau năm 1975.
Ông đã để lại một sự nghiệp văn học phong phú, trong đó "Mùa lá rụng trong vườn" là một tác phẩm tiêu biểu. Được trích từ chương II của tiểu thuyết cùng tên, tác phẩm này thể hiện sự tiếc nuối về những giá trị truyền thống dân tộc đang dần bị mai một trước sự thay đổi mạnh mẽ của cuộc sống hiện đại.
Đoạn trích trong chương II của "Mùa lá rụng trong vườn" kể về chiều 30 Tết năm Bính Tuất, khi chị Hoài – vợ liệt sĩ Tường, con trưởng của cụ Bằng, sau khi tái hôn vẫn trở về thăm gia đình chồng cũ. Dù đã có gia đình riêng, nhưng sự tiếp đón nồng nhiệt từ gia đình ông Bằng và những câu hỏi thăm từ người em trai, em dâu khiến chị không khỏi xúc động và nghẹn ngào.
Nhân vật chị Hoài được tác giả khắc họa tỉ mỉ và sinh động. Chị là một phụ nữ nông thôn, khoảng 50 tuổi, với thân hình thanh thoát trong chiếc áo bông trần hạt lựu. Khuôn mặt chị rộng, đôi mắt đằm thắm, và nụ cười tươi tắn. Qua những chi tiết ấy, chị Hoài hiện lên thật giản dị, nhưng cũng rất tươi tắn và đầy sức sống.
Chị Hoài từng là dâu trưởng trong gia đình ông Bằng, nhưng giờ đã có một gia đình riêng. Dù cuộc sống đã có những bộn bề lo toan mới, chị vẫn luôn giữ trong lòng một tình cảm đặc biệt dành cho gia đình ông Bằng. Trong ký ức của mỗi người trong gia đình này, hình ảnh chị Hoài luôn sống động và đẹp đẽ. Khi về thăm gia đình ông Bằng, chị mang quà quê gồm gạo nếp và giỏ thủ do chồng hiện tại làm.
Cuộc gặp gỡ giữa chị Hoài và ông Bằng là một khoảnh khắc đầy xúc động. Khi gặp ông, chị vội vàng chạy tới, nhưng rồi chợt dừng lại khi gần đến, chỉ kịp gọi khẽ: "Ông!". Sau khi chắp tay trước bàn thờ tổ tiên, chị nhanh chóng hỏi thăm mọi người trong gia đình với sự quan tâm sâu sắc.
Qua những hành động của chị, ta thấy rõ tình cảm thủy chung, sự quan tâm chăm sóc mà chị dành cho gia đình chồng cũ. Chị coi họ như người thân trong gia đình, đó chính là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Cuộc gặp lại giữa ông Bằng và người dâu trưởng là một cuộc gặp mang lại niềm vui nhưng cũng đầy xót xa, như một liều thuốc xoa dịu nỗi cô đơn của ông, tiếp thêm niềm tin cho ông trong bối cảnh gia đình hiện tại.
Lễ Tết diễn ra trong không khí trang nghiêm nhưng cũng rất ấm cúng, với lời khấn thành kính trước bàn thờ tổ tiên. Ông Bằng như quên hết mọi thứ xung quanh, chìm đắm trong những hoài niệm và lời tưởng niệm với tổ tiên, người vợ đã khuất, người con trai cả đã hy sinh. Từ những khoảnh khắc linh thiêng ấy, ông quay trở lại hiện tại, nơi gia đình đang quây quần bên nhau, ấm áp trong sự chuẩn bị chu đáo của Lí và sự yên vui của đêm Tết.
Ông Bằng chính là sự kết nối vững vàng giữa quá khứ và hiện tại, giữa tổ tiên và con cháu trong những giây phút thiêng liêng của gia đình. Qua đoạn trích này, Ma Văn Kháng khéo léo đề cập đến những vấn đề nổi cộm của xã hội thời kỳ đổi mới, khi đất nước gặp khó khăn về kinh tế và mối quan hệ gia đình đang dần bị rạn nứt vì ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai. Từ đó, nhà văn nhấn mạnh thông điệp rằng chúng ta cần bảo vệ và gìn giữ những giá trị văn hóa dân tộc quý báu, vừa hội nhập với thế giới mà không đánh mất đi truyền thống.

8. Bài văn phân tích tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn" số 3
Truyện "Mùa lá rụng trong vườn" của Ma Văn Kháng là một trong những tác phẩm nổi bật, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả trong thời kỳ đổi mới cuối thế kỷ XX.
Cảnh gặp gỡ giữa chị Hoài với cụ Bằng và các em chồng trong buổi chiều ba mươi Tết đầy cảm động. Phượng, sau hơn chín năm về làm dâu nhà cụ Bằng, lại có dịp gặp lại người chị dâu cả của mình. Chị Hoài đã lâu không gặp, nhưng trong khoảnh khắc Phượng nhìn thấy chị Hoài từ cổng nhà, hình ảnh chị hiện lên trong tâm trí cô như một người thân yêu rất đỗi gần gũi.
Phượng, như một chiếc gương phản chiếu, đã giúp tác giả khắc họa rõ nét hình ảnh chị Hoài. Một người phụ nữ nông thôn, khoảng năm mươi tuổi, mặc áo bông chần hạt lựu, có khuôn mặt hiền hòa, đôi mắt đằm thắm và miệng tươi cười. Dáng vẻ của chị thoạt nhìn có vẻ lạ lẫm, nhưng lại gợi lên cảm giác thân thuộc, gần gũi đến lạ.
Ma Văn Kháng thật tài tình khi sử dụng sự nhận diện của Phượng để miêu tả tình cảm của chị Hoài đối với gia đình cũ. Chị Hoài dù đã gần mười năm không gặp, vẫn nhớ Phượng, vẫn yêu thương như xưa. Một câu hỏi giản dị của chị: "Cô Phượng đấy phải không?" tràn ngập tình cảm, giản dị mà sâu nặng.
Chị Hoài về thăm gia đình cũ vào đúng chiều ba mươi Tết, tạo nên một không khí cảm động. Phượng cùng các em chồng đều vô cùng ngạc nhiên và xúc động khi thấy chị. Họ nhớ về chị Hoài, người dâu trưởng trong gia đình, với hình ảnh đẹp đẽ của một người phụ nữ thùy mị, nết na. Mặc dù giờ đây chị đã có gia đình riêng, nhưng tình cảm và mối liên hệ với gia đình cụ Bằng vẫn luôn vẹn nguyên.
Chị Hoài trở về thăm gia đình cũ, thắp hương cho người đã khuất và chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với các thành viên trong gia đình. Những món quà quê do chị mang theo, như gạo nếp, giò thủ, sắn dây, hay những gói hạt giống mướp hương, càng làm tôn lên vẻ đẹp của tình nghĩa gia đình. Chị Hoài không chỉ là một người phụ nữ chăm lo cho gia đình, mà còn là biểu tượng của sự thủy chung, tình yêu thương vô bờ bến đối với gia đình cũ của mình.
Chị không quên hỏi thăm mọi người, từ ông thợ mộc, cô Lý, đến những đứa trẻ trong nhà. Mỗi câu hỏi, mỗi lời khen đều thể hiện sự quan tâm chân thành của chị đối với mọi người. Món quà của chị, dù là những thứ đơn giản nhưng đầy tình cảm, cũng mang đậm dấu ấn của một người phụ nữ hiền hậu, chu đáo.
Đặc biệt, cuộc gặp giữa ông Bằng và chị Hoài sau nhiều năm xa cách cũng là một tình tiết cảm động. Ông Bằng, dù đã già yếu, vẫn không giấu được sự xúc động khi gặp lại người con dâu cũ. Cảnh ông lặng lẽ lau nước mắt, rồi hỏi thăm về cuộc sống của chị và gia đình chị, thể hiện rõ tình cảm sâu nặng của ông đối với chị. Lời khấn của ông Bằng trước bàn thờ tổ tiên cũng phản ánh mối liên kết chặt chẽ giữa quá khứ và hiện tại, giữa tổ tiên và con cháu, một sự kết nối bền vững, thủy chung trong văn hóa gia đình Việt Nam.
Chương II của tiểu thuyết "Mùa lá rụng trong vườn" là bài ca về tình nghĩa thủy chung, về lòng trung thành và tình yêu thương vô bờ bến. Ma Văn Kháng đã khắc họa rất chân thật và cảm động những tình cảm ấy qua các nhân vật, những hành động nhỏ nhưng đầy ý nghĩa. Cảnh cụ Bằng cúng gia tiên, chị Hoài quay lại thắp hương, rồi sự cảm động trong cuộc gặp gỡ giữa ông Bằng và chị Hoài, tất cả đã thể hiện sự trân trọng, lòng biết ơn đối với những giá trị văn hóa và tình cảm gia đình. Một cảnh Tết giản dị nhưng đầy thiêng liêng, đẹp đẽ, xứng đáng để chúng ta lưu giữ và trân trọng.
Qua tác phẩm, Ma Văn Kháng cũng khéo léo ca ngợi những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đặc biệt là qua mâm cỗ ngày Tết – một nét đẹp đặc trưng của người Hà Nội, nơi sự thủy chung, tình cảm gia đình được thể hiện rõ nét. Mâm cỗ của gia đình ông Bằng, tuy đơn giản nhưng đầy đủ hương vị, ấm áp, thể hiện sự tôn trọng truyền thống và gia đình. Và hình ảnh những nhân vật như ông Bằng, chị Hoài, Phượng, Lý đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng đẹp về lòng thủy chung, tình nghĩa sâu sắc của con người Việt Nam.
Chương II của "Mùa lá rụng trong vườn" không chỉ là một tác phẩm văn học đẹp mà còn là một bài ca về tình nghĩa gia đình, về lòng hiếu thảo, và sự thủy chung trong các mối quan hệ. Đó là một bức tranh đẹp về văn hóa Việt Nam, mà Ma Văn Kháng đã thể hiện một cách rất sinh động và cảm động.

